Things I found interesting in July

*viết sớm 1 chút, nếu ko viết lúc này thì chắc phải cuối tháng 8 mới trồi lên lại*

  • tự NẤU ĂN cho mình MỖI NGÀY rất hiệu quả trong việc cân bằng cảm xúc & đầu óc

có lẽ vì tata là gốc thiên bình, nên việc “cân bằng” như một điều kiện cần&đủ để có thể đi qua mỗi ngày bình thường lẫn ngày ‘bão tố’. bản chất công việc của tata thường nhiều ‘bom rơi đạn lạc’, vừa đi làm lại gần 4 tháng thôi, mà tata đã liên tục rơi vào tình trạng bấn loạn đến 4 lần, thường mỗi lần kéo dài 1 tuần đến hơn 2 tuần, tùy thời điểm.

trước đây, tata cũng làm nghề này, tata chọn cách giải quyết stress/áp lực mỗi ngày bằng việc ngủ nhiều, hoặc vẽ, hoặc tập đàn, hoặc bia/cocktail các kiểu. những cách làm này hiệu quả, nhưng chẳng thể làm hoài, làm hàng ngày (vì làm hàng ngày tốn chi phí lắm ^_^  ‘ngủ’ nhiều thì thấy rõ là chi phí cơ hội thế nào rồi 🙂 ).

nấu ăn, mỗi tối, sau khi đi làm về 1 ngày. có thể lúc ấy là 6h, là 8h, hay thậm chí 9h30, chỉ cần vào bếp, đứng trong không gian ‘tĩnh’ đó và bản thân được tự do ‘hô mưa gọi gió’, như một kiểu ‘nghệ sĩ’ tự tạo ra khúc biến tấu riêng của mình với những nguyên liệu sẵn có. việc nấu ăn thú vị, vì cảm giác được làm ‘creator’, đồng thời là người thụ hưởng. trong lúc nấu, rất dễ dàng nhận ra tình trạng cảm xúc và đầu óc của bản thân, vì lơ là một chút thôi là món ăn sẽ khác nhau liền, dù là cùng 1 dạng nguyên liệu và cùng 1 công thức chế biến (cái này giống như lúc tập đàn, sẽ nhận ra rõ lúc nào mình vội, lúc nào mình lơ tơ mơ,..) Nấu ăn cũng đem lại cảm giác thỏa mãn nữa. nói chung, không ngờ một việc tưởng như đơn giản và gần ngay trước mắt như vậy mà hồi nào giờ ít để ý và thấy hết sự sâu sắc của chính nó.

thêm 1 điều nhỏ, tata phát hiện ra cô Nguyễn Zoãn Cẩm Vân chỉ cách nấu món chay rất hay. chương trình đó không thần túy là chia sẻ cách nấu thực phẩm. qua cách cô Vân hướng dẫn, có thể học được rất nhiều điều từ phong thái của cô, từ cách cô am hiểu từng loại nguyên liệu/gia vị, cách cô điều chỉnh người dẫn chương trình chung khi có phát biểu nào đi hơi lạc hướng, cách cô chia sẻ những điều nhỏ nhặt về cuộc sống thông qua việc nấu ăn và những mẫu chuyện liên quan đến các loại thực phẩm.. nói chung, cô Vân là idol mới của tata, nếu nói về các món chay ^_^

  • ‘bạn đang đọc thể loại nào?’

tata thường nghe người khác hay hỏi nhau ‘bạn/mày/anh/chị/em đang đọc sách gì?’.

qua những câu chuyện kể về chủ đề đó, tata vô tình nhận ra, thì ra giới hạn đọc của chúng ta khá hẹp. vì tên sách kể ra có thể nhiều lắm, người này khác người kia nhiều lắm, thật đa dạng. đúng thật!??!! nhưng nếu gom nhóm lại (underlying theme), các tựa sách này chỉ quanh đi quẩn lại trong một số loại/nhóm sách mà thôi. đó là cái ‘giới hạn đọc’ mà tata nhận ra. do vậy mà từ nay, tata, thương ko hỏi chủ đề này đâu, nhưng nếu trong tình huống phù hợp, thì sẽ hỏi ‘bạn đang đọc thể loại nào?’ – tất nhiên là sau đó có tên sách kèm theo.

vì sao ư? vì người có thể cho mình biết họ đọc thể loại nào, tức là vốn đọc của họ cũng phải có chút đa dạng (thì họ mới biết có loại này loại kia), và khi đã biết bản thân đọc loại nào, thì tự họ sẽ chia sẽ với tata về vài/những quyển hay/họ tâm đặc trong thể loại sách ấy. một câu hỏi mang tính gợi mở như vậy, làm dày lên câu chuyện giữa 2 người, và tata sẽ có thêm cơ hội biết về những điều mới.

  • đạp xe đi làm

yay! finally I could make it! ^^

đạp xe đi làm (hoặc đi xe bus đi làm) là ước muốn của tata trong năm nay, đã đề ra từ hồi đầu năm nay ấy. đạp xe đi làm, mới thấy có nhiều cái thú vị. như hồi nào giờ cứ nghĩ đạp xe là dùng sức, nên phải chọn đường đi ngắn nhất. nhưng không phải, đường ngắn nhất chưa hẳn là lựa chọn phù hợp nhất cho việc đạp xe đi làm mỗi sáng và đạp về mỗi tối. vì ngoài yếu tố đường ngắn – đỡ tốn sức, việc đạp xe là tổng hòa của rất nhiều yếu tố khác như nắng-gió-bụi (hay không gian xanh mát) của đường đi, những người lái xe máy trên tuyến đường mình đi (họ là những người khó chịu vì có ai đó đi xe đạp chậm rì hay họ là người sẽ cảm thấy được inspired bởi người đi xe đạp chậm rì – tùy vào mắt nhìn của họ, nhưng ảnh hưởng đến hành động của họ khi có tata xuất hiện tà tà cùng đường). là vì đi chậm, nên có thêm thời gian ngắm nhìn không gian buổi sớm/tối, là có thêm thú vui lựa chọn list nhạc cho chuyến hành trình mỗi ngày, là có thêm thời gian lẩm nhẩm bài report đang làm dở mà ko sợ lái xe lơ là,…

cái sự ‘tổng hòa’ ấy của việc đi xe đạp, nghe quen không? ^^

cũng giống như hành trình cuộc sống hen. nếu ‘con đường ngắn nhất’ chính là ‘có nhiều tiền nhất’ – điều mà ai cũng nghĩ đến ngay – thì đó chưa chắc là lựa chọn phù hợp nhất với chính bản thân. cuộc sống có nhiều lựa chọn thú vị thêm mà 🙂

*tháng này vậy là hết rồi ấy. vì tháng này nhiều báo cáo phải nộp lắm, trung bình 2 ngày nộp 1 cái, cho đến hết giữa tháng 8 cơ. @_@.  try to be kind and have courage anyway to roll over the period 🙂 *

Things I found interesting in Jun 2017

*Những điều tata cảm thấy thú vị vào tháng 6/2017*

Lâu lắm rồi mới lại quay lại dạng bài blog này nhỉ. Hồi đó còn siêng siêng viết tiếng Anh này nọ, giờ lười rồi ^_^ Mà thây kệ, nội dung mới là quan trọng, ngôn ngữ chỉ là ‘chất dẫn’ thôi hà.

  • đi thuê 1 căn hộ, ở thử, thấy thích không gian sống các kiểu, thì mới mua để ở.

Đây là một điều thú vị mang tính rất rất cá nhân theo kiểu sống rất rất ‘nuông chiều’ sự thoải mái của bản thân. Ngày trước, tata cũng từng mua một căn nhà nhỏ để ở, nhưng cảm giác ban đầu với không gian ở nơi đó là không thích lắm, không phải vì căn chung cư mà là vì đường đi đi về về. ‘Cảm giác sống’ là một sự tổng hòa của vô vàn thứ mà khi dùng lý trí để phân tích thường lắm khi thiếu sót. Phải ở thử, trải nghiệm thử khu đó, sẽ hiểu rõ mình cần gì và nơi đó đáp ứng điều mình cần đến mức độ nào. Quay lại căn nhà cũ, lúc đó cũng thích căn nhà, nhưng mỗi lần đã ra đường thì lười chạy về, đã ở nhà thì lười chạy ra đường. Nên cũng ít nhiều bất tiện.

Và giải pháp “thuê ở thử chỗ mình định mua” là giải pháp vô tình nhận ra khi tháng rồi bắt đầu ở chỗ mới. Hồi nào giờ mình chưa từng biết khu này, khi dọn vào 1 thời gian thì nhận ra, hay là cuối năm nay mình mua 1 căn ở đây ta, vì nó khá là hợp với nhu cầu hiện tại và trong 1-2 năm nữa của mình.

  • phải lấy người smart/clever + family-oriented ^_^

chà, cái chủ đề nhạy cảm của gái ế tuổi 29.

hồi giờ ai bảo mình kén chọn, mình chối ngay. mình thấy mình có đòi hỏi gì đâu nè. lúc đó nếu ai hỏi tiếp thế nghĩ đến ai nhà mi sẽ bị hấp dẫn, thì nghĩ ko ra, có nêu ra các đặc tính thì cũng chỉ là nghĩ đến đâu nói đến ấy, khá hời hợt.

nhưng bây giờ khác rồi, nhận ra, chắc là mình kén thật. khi mà đã có thể thấy rõ mình CHỈ CẦN 2 yếu tố nêu trên, mình mới nhận ra, chà, 2 yếu tố này mà kiếm được trong cùng 1 người vào cùng 1 thời điểm và còn available để người đó thích mình, trong 7 tỷ người, chắc là không còn nhiều đâu =]]]]. nên bây giờ ai bảo mình kén, mình sẽ như 1 chú cún con, ngoan ngoãn cúi đầu, nhắm mắt thừa nhận, ‘ừ, tao nghĩ tao kén thật.”

  • “meaningful difference”

đây là framework để build brand mà công ty mình dựa vào trong tất cả mọi nghiên cứu để tư vấn cho khách hàng. và mình nhận ra, điều này cũng áp dụng cho mỗi cá nhân được. vì xét ra, một thương hiệu (brand) là tổng hòa của những cá tính riêng của brand, của cảm giác mà brand đó mang lại cho người khác, là biểu hiện của brand đó trên thị trường, và brand đó làm gì để người ta thương người ta nhớ ^_^

mỗi cá nhân, cũng vậy. vậy thì tại sao mình không nghĩ về cuộc sống của mình như cái cách mà brand đang làm “make its difference meaningful to others”. nhiều lúc mình thấy mình ngưỡng mộ những bạn sống chất, nhiều lúc mình thấy mình không thích những bạn làm quá. bây giờ xét lại, thật ra những bạn mình cho là “sống chất” với những bạn mình cho là “làm quá”, thật ra có điểm chung ở chỗ là bạn nào cũng differentiate (tạo ra sự khác biệt) trong cách bạn thể hiện cả thôi. và một bạn mình cho là “sống chất” có lẽ vì mình thấy điều đó meaningful (có ý nghĩa) trong hoàn cảnh đó/hoặc với mình/hoặc với hoàn cảnh của bạn. và ngược lại với trường hợp bạn mình cho là “làm quá.”

 

*tháng này chỉ có thế thôi, vì tháng này ngụp lặn trong công việc rồi 🙂 *

Nơi ở mới

Lại chuyển đến nơi ở mới.

“Lại”, là bởi năm qua mình sống như người du mục, vài tháng chỗ này, vài tháng chỗ kia, người ở 1 nơi mà đồ đạc ở nơi khác… kể từ tháng 5 năm ngoái khi bán nhà (tròn 1 năm, vô tình nhỉ).

Công việc đi làm được 2 tháng, chưa ổn định.

Chuyển nơi ở, thiếu ổn định quá.

Nhưng sao có cảm giác, sự không ổn định nó mới là sự ổn định với mình. Kỳ cục thật.

anw, note lại thời điểm này. Có những cột mốc thời gian cần lắm sự nhắc nhớ. lần này, vì là lần đầu tiên kể từ lúc sinh ra, mình hoàn toàn sống tự lập, ko có người thân ở chung nhà.

vừa háo hức vừa sợ, cứ như năm 18 tuổi rời quê lên thành phố.

lớn rồi mà còn ngớ ngẩn và trẻ con ghê =)))

vậy đi!

Bài 14 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

Bài này thực ra là không phải viết cho blog này, mà là viết nộp nghiên cứu cấp “làng xã” cho trường Ngoại Thương cùng với bạn Dương ^_^ Viết lâu òi, ngày mai đi báo cáo, nên hôm nay mới cho bài go public. Nội dung bài viết chỉ lạ với người không trong nghề thôi, chứ người trong nghề đọc là thấy “ôi xời, có thế thôi mà” liền luôn. ahihi. anyway, lâu lâu làm một điều gì đó nho nhỏ đóng góp cho trường bạn và cho mấy em nhỏ, thấy cũng vui. và cả lần đầu làm chung với bạn Dương nữa.

vào phần chính ^_^ [khuyến cáo: siêu dài, 10 trang chưa tính phần ví dụ 5 trang]

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

TRONG NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Kỳ Nam[1]

ThS. Nguyễn Tuấn Dương[2]

  1. Đặt vấn đề.

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, khi người tiêu dùng ngày càng trở nên thông minh, các nhà sản xuất kinh doanh không chỉ tập trung vào việc sản xuất mà còn phải nỗ lực vào việc thấu hiểu khách hàng, những người có những nhu cầu luôn hết sức đa dạng và thay đổi không ngừng. Thông tin chính là một yếu tố đầu vào quan trọng trong việc hoạch định và triển khai chiến lược kinh doanh. Thông tin về thị trường và khách hàng luôn là một mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Để có được thông tin đó và đảm bảođộ tin cậy và tính xác thực của thông tin, đòi hỏi cần phải có một hệ thống các phương pháp mang tính khoa học. Lĩnh vực nghiên cứu thị trường tuy không mới mẻ trên thế giới. Nhưng thời gian gần đây, tại Việt Nam với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và đặc biệt là sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ, lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), nhu cầu của các thông tin trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường ngày càng trở nên cấp thiết. Trong việc nghiên cứu và học tập tại các trường đại học khối ngành kinh tế, kinh doanh, nhiều đề tài nghiên cứu của giảng viên và khóa luận, nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng liên quan đến các vấn đề về nghiên cứu thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này giới thiệu một trong hai phương pháp chính được sử dụng trong dự án nghiên cứu thị trường là phương pháp định tính.

  1. Tổng quan về nghiên cứu thị trường.

Nghiên cứu thị trường (Market research) là công tác nhận dạng, lựa chọn, thu thập, phân tích và phổ biến thông tin với mục đích hỗ trợ việc ra quyết định có liên quan đến sự xác định và xử lý những vấn đề và cơ hội trong Marketing (Malhotra, 1996). Theo Phillip Kotler (1996), nghiên cứu thị trường là việc thiết kế quy trình, thu thập, phân tích và trình bày dữ liệu, cung cấp thông tin liên quan đến đến một vấn đề cụ thể về marketing của một doanh nghiệp. Đây cũng chính là khâu đầu tiên trong quy trình marketing theo quan điểm của Kotler.

Vai trò cốt yếu nhất của nghiên cứu thị trường là cung cấp thông tin hữu dụng hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định kinh doanh. Trong đó, các công ty nghiên cứu thị trường hiện nay tại Việt Nam, phần lớn tập trung vào việc hỗ trợ thông tin trong lĩnh vực marketing và bán hàng (Sales), mục đích cụ thể bao gồm:

  • Giúp giảm rủi ro thất bại trong quyết định kinh doanh;
  • Tìm kiếm và xác định cơ hội cũng như thách thức để tối đa hóa xác suất thành công trong kinh doanh;
  • Cung cấp thông tin nhằm định hướng cho việc phát triển chiến lược và kế hoạch kinh doanh.

Nghiên cứu thị trường có 02 phương pháp chính: nghiên cứu định tính (qualitative research) và nghiên cứu định lượng (quantitative research) (Mike & Gill, 2002). Mỗi loại phương pháp này được phát triển thành nhiều loại hình phương pháp nhỏ hơn tùy vào mục đích nghiên cứu, cụ thể:

  • Nghiên cứu định tính gồm có: phương pháp nghiên cứu dựa trên việc đặt câu hỏi và phương pháp nghiên cứu dựa trên quan sát.

+ Phương pháp nghiên cứu dựa trên việc đặt câu hỏi được chia thành: Phương pháp phỏng vấn nhóm (Focus group discussion) gồm có: Phỏng vấn nhóm, phỏng vấn nhóm nhỏ (mini-FGD), phỏng vấn nhóm trực tuyến (online FGD); Phỏng vấn sâu hay phỏng vấn cá nhân (In-depth interviews) gồm có: Phỏng vấn cá nhân 01 phỏng vấn viên và 01 đáp viên (IDI), phỏng vấn cặp (pair-depth interview) và phỏng vấn cá nhân trực tuyến (online IDI).

+ Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan sát được chia thành: Nghiên cứu lý thuyết (grounded theory), phương pháp này chỉ được dùng trong nghiên cứu lý thuyết cơ bản; Quan sát tham dự (participant observation) gồm có: quan sát tại nhà (in-home visits), đồng hành mua sắm (accompanied shopping), Phương pháp khách hàng bí ẩn (Mystery shopping), phương pháp quan sát (observation studies); Phương pháp Ethnography,…

  • Nghiên cứu định lượng gồm có: Phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng việc phỏng vấn với một bảng câu hỏi có cấu trúc mặc định (structured-questionnaire) đã được chuẩn bị trước thông qua các cách thức như: Phỏng vấn tại nhà (door to door) hay phỏng vấn trực tiếp (face-to-face interview), Tiến hành khảo sát tập thể tại một địa điểm cố định (Central location test), hay phương pháp quan sát (observation studies), phương pháp khách hàng bí ẩn (mystery shopping), phỏng vấn qua điện thoại (telephone Interviews), phỏng vấn trực tuyến (online Interviews), phỏng vấn qua thư điện tử (Mail Interviews), phỏng vấn đường phố (street interception),…

Bài viết này, nhóm tác giả tiến hành đi sâu vào việc phân tích phương pháp nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường.

  1. Nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường.

3.1. Khái niệm.

Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu định tính là một phần của nghiên cứu thị trường. Trong thực tiễn kinh doanh, nghiên cứu định tính đóng vai trò khám phá (explore), tìm hiểu cái gì (what), như thế nào (how) và tại sao (why) về tất cả các đặc tính về thái độ, ý kiến và hành vi của người tiêu dùng, khách hàng, hay người mua đối với một loại sản phẩm, dịch vụ nhằm giúp cho doanh nghiệp, tổ chức hoạch định kế hoạch hoạt động kịp thời và hiệu quả (Mike & Gill, 2002).

Vì vậy, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường là khoảng giao nhau giữa nghiên cứu thị trường và nghiên cứu định tính (Hình 1). Để xác định và làm rõ bản chất của nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường, cần thực hiện hai loại so sánh:

  • So sánh nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường với các hình thức khác của nghiên cứu thị trường mà không phải là nghiên cứu định tính.
  • So sánh nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường với các hình thức khác của nghiên cứu định tính mà không phải là nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường

 

 

 

 

Nghiên cứu thị trường mà không phải là nghiên cứu định tính, ví dụ: nghiên cứu định lượng, khảo sát, phân tích dữ liệu
Nghiên cứu định tình mà không phải là nghiên cứu thị trường, ví dụ: Nghiên cứu định tính học thuật

 

Hình 1. Phạm vi của nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường

(Nguồn: Mike & Gill, 2002)

Một dự án nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường có các đặc điểm chính sau:

  • Mục tiêu: khám phá (exploratory), trả lời cho câu hỏi cái gì (what), như thế nào (how), tại sao (why).
  • Dữ liệu thu thập: dạng dữ liệu mở và linh hoạt (băng ghi âm, ghi hình, bản ghi nhớ,…).
  • Mẫu nghiên cứu: số mẫu nhỏ.
  • Phân tích dữ liệu: không mang tính khoa học thống kê.
  • Kết quả nghiên cứu: kiến nghị mang tính tham khảo (suggestions).

3.2. Đặc điểm của nghiên cứu thị trường sử dụng phương pháp định tính:

Theo Mike & Gill (2002), những đặc điểm nổi bật của dự án nghiên cứu thị trường sử dụng phương pháp định tính thực tế có thể tóm tắt như sau:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu có một “vai trò kép”, họ vừa có trách nhiệm với các tiêu chuẩn trong nghiên cứu và vừa phải đảm bảo trách nhiệm với các mục tiêu của khách hàng.

Thứ hai, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường được quy định và trình bày dưới hình thức các hợp đồng dịch vụ.

Thứ ba ,dự án nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường được xác định rõ ràng bằng một phạm vi nghiên cứu cụ thể tương đối hẹp.

Thứ tư, có sự linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp định tính trong quá trình nghiên cứu.

Thứ năm, phương pháp phỏng vấn là phương pháp thường được sử dụng.

Thứ sáu, kết quả nghiên cứu định tính sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác trong nghiên cứu thị trường như nghiên cứu định lượng, nghiên cứu thực địa.

Thứ bảy, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường là một thực hành dựa trên kinh nghiệm, với một số tác động và liên kết từ đặc điểm nghề nghiệp, sự cần thiết của việc giao tiếp truyền thống và kiến thức tích lũy.

Thứ tám, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường thể hiện quan điểm sự ứng dụng và hòa hợp dựa trên lý thuyết có sẵn.

3.3. Quy trình của nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường.

Dự án nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường thường bao gồm các bước sau:

Sơ đồ 1. Quy trình nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp[3])

Bước 1: Xác định vấn đề (Identify the issue). Trong nhiều trường hợp thực tế, bước này thường bị bỏ qua hoặc xem nhẹ vì vốn dĩ công ty hoặc đối tác đã nhận diện được vấn về.Tuy nhiên, để xác định cụ thể vấn đề cần nghiên cứu, cần thực hiện các bước sau: Xác định cụ thể các hiện tượng (symptoms) xảy ra; Liệt kê tất cả các nguyên nhân có thể có dẫn đến hiện tượng đó; Xem xét lại danh sách các nguyên nhân này, đâu là nguyên nhân mà giám đốc hoặc trưởng phòng marketing/sales có thể giải quyết. Công việc xác định vấn đề này đòi hỏi có sự phối hợp của các chủ thể liên quan đến dự án, bao gồm đội ngũ nghiên cứu (research manager), bộ phận marketing gồm giám đôc nhãn hàng (brand manager), giám đốc bộ phận marketing (marketing director).

Một số ví dụ minh họa cụ thể như sau:

Ví dụ 1: Công ty vừa tung ra một chiến dịch marketing cho nhãn hiệu X (chủ yếu là quảng cáo thông qua hình thức quảng cáo TVC (Television Commercial), doanh thu tăng 35% trong suốt thời gian xảy ra chiến dịch và đột ngột giảm sau khi hết chiến dịch. Tại sao lại xảy ra hiện tượng này?

Ví dụ 2: A là nhãn hiệu một sản phẩm của công ty, kinh doanh không tốt trong thời gian gần đây, có thể do mức độ thâm nhập thị trường ngày càng tăng của sản phẩm B, đối thủ của A. Công ty phải làm gì để tăng doanh thu và ngăn chặn sự ảnh hưởng từ sản phẩm B?

Ví dụ 3: Công ty muốn tung ta một dòng sản phẩm mới. Để việc tung sản phẩm thành công, công ty cần truyền thông về sản phẩm ra thị trường. Công ty nên truyền thông điều gì về sản phẩm?

Bước 2: Xác định mục tiêu nghiên cứu (Establish the Research Objectives). Khi vấn đề cần được nghiên cứu đã được xác định rõ ràng, các giả thuyết và biến nghiên cứu cần được xác định và đo lường. Mục tiêu nghiên cứu xác định rõ cái gì cần được đo lường và kiểm nghiệm.

Ví dụ minh họa (sử dụng tiếp ví dụ về nhãn hiệu X đã được đề cập ở ví dụ 1 bên trên), sau khi xác định vấn đề cần nghiên cứu là hiện tượng doanh thu nhãn hiệu X tăng trong thời gian quảng cáo nhưng giảm ngay sau khi quảng cáo kết thúc. Các nguyên nhân có thể liên quan:

  • Liên quan đến quảng cáo TVC: thời lượng quảng cáo chưa đủ, mức độ yêu thích quảng cáo chưa cao, độ thuyết phục của thông điệp truyền thông, thông điệp không dễ dàng được ghi nhớ,…
  • Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến hiện tượng doanh thu giảm: việc phân phối sản phẩm tại cửa hàng, thiếu hụt hàng để bán (out of stock),…
  • Vấn đề có thể giải quyết đối với bộ phận marketing: tiếp tục sử dụng chiến dịch quảng cáo hoặc chỉnh sửa quảng cáo trước khi tái sử dụng.

Từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu: Đo lường hiệu quả của quảng cáo và hình ảnh thương hiệu thông qua quảng cáo.

Bước 3: Thiết kế nghiên cứu (Research Design).Ở bước này, nhóm nghiên cứu cần thiết kế và trình bày một bảng mô tả phương pháp và quy trình thực hiện nghiên cứu nhằm đảm bảo kết quả dự án thành công với nguồn lực sử dụng hiệu quả (thời gian, chi phí). Một số yếu tố cụ thể cần được quan tâm trong nghiên cứu định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu: phương pháp sẽ sử dụng trong dự án ví dụ phỏng vấn cá nhân (phỏng vấn sâu) hay nghiên cứu Ethnography.
  • Loại hình nghiên cứu: cần xác định rõ loại hình nghiên cứu, vì yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến các phương pháp chọn mẫu và các bước tiếp theo. Ví dụ nghiên cứu để kiểm tra ý tưởng quảng cáo (Concept Test), nghiên cứu thái độ và hành vi của người tiêu dùng (Usage & Attitude),…
  • Phương pháp lấy mẫu: trình bày phương pháp lấy mẫu như lấy mẫu thuận tiện (purposive sampling), lấy mẫu theo hạn mức (quota sampling),…
  • Độ dài phỏng vấn: thời lượng dự kiến cho mỗi cuộc phỏng vấn, ví dụ: thời gian 2 tiếng/01 phỏng vấn nhóm (FDG), 90 phút/ 01 phỏng vấn sâu (IDI).
  • Điều kiện đáp viên (đối tượng phỏng vấn):Trong phần này cần mô tả cụ thể, chi tiết các đặc điểm của đáp viên sẽ tham gia nghiên cứu. Việc này sẽ giúp cho quá trình tuyển đáp viên và phối hợp làm việc với các đơn vị hỗ trợ. Ví dụ điều kiện chung cho đáp viên của dự án nghiên cứu xây dựng công viên giải trí tại ngoại thành thành phố Hà Nội sẽ là Nam hoặc nữ, độ tuổi từ 15-45, sinh sống tại Hà Nội, mức thu nhập hộ gia đình từ 15 triệu trở lên; là người quyết định chính trong các hoạt động vui chơi giải trí của chính bản thân họ; ít nhất 2 lần 1 tuần có các hoạt động vui chơi giải trí (không bao gồm hoạt động đi mua sắm);
  • Phân bổ đáp viên: tiến hành phân đáp viên thành các nhóm. Ví dụ: Thiếu niên (teenager): 15-18 tuổi; Người mới đi làm (first jobber): 22-28 tuổi; Bà mẹ có con nhỏ (moms with kids): 25-40 tuổi, con dưới 14 tuổi; Bố có con nhỏ (men with kids): 30-45 tuổi, con dưới 14 tuổi.
  • Số mẫu: phần này trình bày cụ thể số lượng đáp viên của toàn dự án và số đáp viên của từng nhóm đáp viên, như đã trình bày ở trên, đối với nghiên cứu định tính, số mẫu thường nhỏ, tùy theo yêu cầu cũng như kinh phí của dự án, thường số mẫu của các dự án nghiên cứu thị trường cho mỗi nhóm đáp viên theo từng phương pháp nghiên cứu dao động từ 01 đến 06 trường hợp.Ví dụ số mẫu theo từng nhóm đáp viên: Thiếu niên: 01 nhóm FGD và 02 đáp viên Ethnography; Người mới đi làm: 01 nhóm FGD và 02 đáp viên Ethnography; Bà mẹ có con nhỏ: 01 nhóm FGD và 02 đáp viên Ethnography; Bố có con nhỏ: 01 nhóm FGD và 02 đáp viên Ethnography; Tổng cộng: 05 nhóm FGD và 10 đáp viên Ethnography. Với mỗi nhóm đáp viên cho FGD từ 06 – 08 đáp viên.
  • Tiến độ công việc của dự án: phần này sẽ trình bày cụ thể công việc của các bước cùng với thời gian dự kiến. Đây chính là căn cứ để nhóm nghiên cứu cùng với bộ phận phụ trách (bộ phận marketing) theo dõi và phối hợp thực hiện. Các phần tiếp theo trong tiến độ dự án bao gồm: Thiết kế bảng câu hỏi thảo luận (discussion guideline); Phản hồi và hiệu chỉnh bảng câu hỏi thảo luận; Tuyển đáp viên; Thực hiện phỏng vấn; Thực hiện báo cáo; Thuyết trình báo cáo; Chi phí thực hiện.

3.4. Các phương pháp, công cụ và kỹ thuật dùng trong nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường.

3.4.1. Các phương pháp:

  • Phương pháp phỏng vấn nhóm (Focus group discussion) gồm có: Phỏng vấn nhóm, phỏng vấn nhóm nhỏ (mini-FGD), phỏng vấn nhóm trực tuyến (online FGD). Phỏng vấn nhóm sử dụng câu hỏi mở (open-ended) và quá trình thực hiện linh hoạt trong việc phỏng vấn, cho phép việc tìm hiểu sâu, phân tích câu trả lời của đáp viên trên góc độ biện giải và cảm xúc. Phỏng vấn nhóm cho phép việc phân tích không chỉ với dữ liệu dạng câu trả lời (verbal response) mà còn dựa trên dữ liệu dạng biểu hiện hình ảnh (facial expresses). Phỏng vấn nhóm thường gồm 06- 08 đáp viên hoặcphỏng vấn nhóm nhỏ (mini-FGD) gồm 04 đáp viên, dẫn dắt cuộc thảo luận bởi một điều phối viên có kinh nghiệm (gọi là moderator), thảo luận kéo dài từ 120 đến 150 phút.
  • Phỏng vấn sâu hay phỏng vấn cá nhân (In-depth interviews) gồm có: Phỏng vấn cá nhân 01 phỏng vấn viên và 01 đáp viên (IDI), phỏng vấn cặp (pair-depth interview) và phỏng vấn trực tuyến (online IDI), đây là một kỹ thuật trong nghiên cứu định tính gồm việc tiến hành các cuộc phỏng vấn cá nhân chuyên sâu với một số ít người được hỏi để khám phá quan điểm của đáp viên về một cụ thể ý tưởng, chương trình, hoặc tình huống cụ thể. Ví dụ, chúng ta có thể hỏi những người tiêu dùng về một chương trình quảng cáo hoặc một chiến dịch bán hàng cụ thể nào đó, về những suy nghĩ, trải nghiệp và mong đợi, phản hồi liên quan của họ. (Carolyn & Palena, 2006). Cũng tương tự phỏng vấn nhóm, phỏng vấn cá nhân cũng là phương pháp sử dụng câu hỏi mở (open-ended) và quá trình phỏng vấn linh hoạtvà thu thập đa dạng thông tin, dữ liệu. Tuy nhiên, phỏng vấn cá nhân thường dùng cho các nội dung thảo luận có tính riêng tư hay nhạy cảm ví dụ như việc sử dụng tài chính cá nhân, sử dụng bao cao su hay dùng thuốc tránh thai. Phỏng vấn cá nhân chỉ phỏng vấn một đáp viên, hoặc Pair-depth interview phỏng vấn 2 đáp viên, dẫn dắt cuộc phỏng vấn bởi người phỏng vấn có kinh nghiệm, thảo luận kéo dài từ 90-120 phút.
    • Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan sát, gồm có:in-home visits, accompanied shopping, observation studies. Phương pháp dựa trên quan sát cho phép việc quan sát kết hợp với phỏng vấn trực tiếp tìm hiểu rõ về việc sử dụng cũng như suy nghĩ của đáp viên trong tình huống thực tế.
      • Phương pháp ethnography[4]: Phương pháp này yêu cầu nhà nghiên cứu đồng thời vừa quan sát, vừa tham dự vào loại hình hoạt động xã hội cụ thể của một cá nhân hoặc một cộng đồng cụ thể, trong một khoảng thời gian tương đối. Thực tế áp dụng tại các công ty nghiên cứu thị trường hiện nay, thời gian áp dụng phương pháp này đối với mỗi trường hợp nghiên cứu kéo dài tương đối ngắn, từ 1 ngày đến tối đa là 1 tuần ( tùy ngân sách và sự quan tâm).

3.4.1. Các công cụ, kỹ thuật:

  • Dàn bài thảo luận (discussion guideline): Để thu thập dữ liệu định tính trong nghiên cứu thị trường, nhà nghiên cứu sử dụng dàn bài thảo luận chứ không dùng bảng câu hỏi chi tiết có cấu trúc mặc định (structured questionnaire). Dàn bài thảo luận bao gồm hai phần chính. Phần thứ nhất giới thiệu mục đích và tính chất của cuộc nghiên cứu. Đây cũng là phần tự giới thiệu và làm quen với nhau giữa những người tham gia thảo luận, tạo bầu không khí thân mật ban đầu (warm – up section). Phần thứ hai gồm các câu hỏi định hướng cho quá trình thảo luận.
    • Kỹ thuật phỏng chiếu (Projective technique): Là kỹ thuật phỏng vấn, thu thập dữ liệu một cách gián tiếp nhằm tìm hiểu được quan điểm, niềm tin và cảm giác của đáp viên. Thông thường, người ta sử dụng các kỹ thuật như đồng hành từ (word association), hoàn tất câu (sentence completion), đóng vai (role playing), nhân cách hóa thương hiệu (brand personification), hoàn tất hoạt hình (cartoon test) và nhận thức chủ đề (thematic apperception test).
    • Điều phối viên/nhà nghiên cứu (moderator): sử dụng những tình huống được thiết lập, để đáp viên trình bày suy nghĩ của họ trong tình huống ấy. Các công cụ thường được dùng trong kỹ thuật này:
      • The trash and treasure box: tương tự như cặp câu hỏi “thích/không thích” nhưng giúp hiểu sâu hơn thái độ của đáp viên đối với vấn đề được hỏi.
      • The collage: yêu cầu đáp viên tìm hình ảnh mà họ thấy phù hợp nhất về vấn đề đang được hỏi, hỏi sâu về suy nghĩ và cảm nhận của họ và nhờ họ giải thích những điều này.
      • The magic wand and the 3 wishes: hỏi đáp viên về 3 yếu tố lý tưởng họ có thể áp dụng để cải tiến sản phẩm/dịch vụ/tình huống đang được đề cập đến.
      • The proust questionnaire: câu hỏi giả định hóa vấn đề được hỏi, thường dùng để tìm hiểu về đặc điểm hình ảnh của thương hiệu, cách thông dụng là nhân cách hóa (personalization) một sự vật, sự việc.
      • Game: sử dụng trò chơi như hoàn thành câu, nghĩ thêm về một tình huống hay câu chuyện còn đang dang dở,…

3.5. Phân tích dữ liệu định tính

Phân tích dữ liệu định tính có thể chia ra thành 02 bước chính gồm: xử lý dữ liệu định tính và phân tích dữ liệu định tính.

Bước 1: Xử lý dữ liệu định tính. Nghiên cứu định tính sử dụng đa dạng dạng thức dữ liệu như băng ghi âm, băng ghi hình, bản ghi nhớ, hay dữ liệu ghi chú từ việc quan sát trong quá trình thực hiện phỏng vấn. Nhà nghiên cứu cần tổng hợp tất cả dạng dữ liệu thu thập được này thành bảng tường thuật chi tiết (transcript). Một số lưu ý khi thực hiện bảng tường thuật chi tiết. Bảng tường thuật chi tiết (transcript) là dạng văn bản viết, ghi lại toàn bộ nội dung buổi phỏng vấn.Việc thực hiện bảng tường thuật chi tiết thường tốn nhiều thời gian, thời lượng ước tính trung bình theo tỷ lệ 5:1, nghĩa là cần 05 tiếng để làm bảng tường thuật chi tiết cho 01 giờ thực hiện phỏng vấn. Bảng tường thuật chi tiết chất lượng đòi hỏi tính khách quan trong quá trình thực hiện, tránh bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm chủ quan của người thực hiện.

Bước 2: Phân tích dữ liệu định tính.

Việc phân tích dữ liệu định tính tốt phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức của người phân tích. Trong đó, có thể kể ra một số bước cơ bản khi thực hiện phân tích nội dung dữ liệu định tính (content analysis), công việc này thường cần nhiều thời gian để thực hiện và trải qua các bước chính sau đây:

  • Dựa vào bảng tường thuật chi tiết, thực hiện việc ghi chú lại các thông tin thú vị hay có liên quan đến chủ đề nghiên cứu đang tìm kiếm gọi là bảng ghi chú ngắn gọn (brief notes);
  • Dựa trên bảng ghi chú ngắn gọn (brief notes) xem xét sự giống và khác nhau của các thông tin tìm thấy;
  • Xem lại danh sách các thông tin tìm thấy, phân loại thành các nhóm thông tin. Theo đó, mỗi nhóm thông tin có khả năng mô tả hay làm sáng tỏ thêm được vấn đề nghiên cứu đang tìm kiếm;
  • Xác định mối tương quan giữa các nhóm thông tin đã phân loại, có thể là mối tương quan dạng nguyên nhân – hệ quả, hay tập hợp mẹ-con. Từ đó hình thành nên các nhóm thông tin cốt yếu (major categories/themes) và/hoặc các nhóm thông tin phụ (minor categories/themes);
  • Tiếp tục so sánh và đối chiếu giữa các nhóm thông tin này để tìm thấy điểm giống nhau, khác nhau hay tương phản giữa các nhóm;
  • Thực hiện tuần tự các bước vừa nêu trên (từ 01 đến 05) cho mỗi bảng tường thuật chi tiết (transcript);
  • Tập hợp tất cả các nhóm thông tin tìm thấy từ tất cả các transcripts của dự án, và kiểm tra lại một lần nữa tính phù hợp và mức độ liên quan đến chủ đề đang nghiên cứu, cũng như độ chính xác của cách phân loại nhóm thông tin.

Nội dung dữ liệu định tính thường được phân tích trên 2 cấp độ:

  • Cấp độ phân tích cơ bản (hay trực quan): sử dụng dữ liệu để mô tả về vấn đề được nghiên cứu. Ở cấp độ này, việc phân tích thực hiện dưới dạng mô tả vấn đề, không thêm vào nhận định hay lý thuyết lý giải cho câu hỏi tại sao (why) hay như thế nào (how) của vấn đề.
  • Cấp độ phân tích sâu: sử dụng dữ liệu phân tích nhằm diễn dịch thông tin sâu, giúp lý giải các hiện tượng cũng như hàm ý liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó tìm ra được những sự thật ngầm hiểu (insights) hay các thông điệp quan trọng (important messages) ẩn chứa của vấn đề cần nghiên cứu.

3.6. Một số lưu ý đối với nghiên cứu định tính trong nghiên cứu thị trường.

Một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của một nghiên cứu định tính là vai trò của người dẫn nhóm hay người điều phối (moderator). Do đó, người điều phối cần phải:

  • Nắm rõ mục tiêu dự án;
  • Nắm vững quy trình thảo luận (discussion flow);
  • Có khả năng liên kết với đáp viên trong khi trò chuyện;
  • Sử dụng linh hoạt kỹ thuật đặt câu hỏi;
  • Có kỹ năng kiểm soát thời gian;
  • Có khả năng điều tiết đáp viên.

Kỹ thuật đặt câu hỏi là vấn đề cần được lưu ý. Câu hỏi mở (open-ended question) được sử dụng trong nghiên cứu định tính, do đó khi đặt câu hỏi: cần phải tuân thủ theo dàn bài câu hỏi (discussion guideline) nhưng hỏi theo ngôn ngữ và giọng điệu đối thoại hàng ngày, sử dụng ngôn ngữ của người tiêu dùng, sử dụng câu hỏi đơn giản, hỏi từng câu một, không hỏi dồn dập với giọng hỏi nhẹ nhàng. Đặc biệt không bao giờ chấp nhận hoặc dừng lại ở câu trả lời có/không.Luôn hỏi thêm các câu tại sao, như thế nào, để làm gì,… nhằm khai thác thêm các ý kiến (insights) của đáp viên.

Tránh câu hỏi mang tính dẫn dắt, định hướng (leading question) ví dụ: về thị trường bia, đôi khi có tin đồn nhãn hiệu bia A bị làm giả, đồng thời, khi đó doanh thu của bia A bị giảm. Công ty sản xuất bia A có nhu cầu cần biết liệu việc giảm doanh thu có hay không có liên quan trực tiếp với tin đồn bia giả trên thị trường.Công ty cần làm nghiên cứu để tìm hiểu về vấn đề này. Dạng câu hỏi là “Anh/chị có nghe nói đến bia A có bia giả trên thị trường không?” là câu hỏi đã mang tính dẫn dắt thông tin, vì có khi là bản thân người đáp viên có thể chưa biết hoặc chưa nghe nói đến thông tin này, và khi đặt ra câu hỏi như vậy, đã vô tình dẫn dắt đáp viên đi đến sự ngầm hiểu rằng “Thì ra là hiện nay đang có thông tin bia A giả trên thị trường”. Để làm đúng, cần phải dùng nhiều câu hỏi, hỏi từ bao quát đến chi tiết. Ví dụ.“Dạo gần đây, anh có biết hay nghe đến thông tin gì về biaở Tp. HCM không?”, để đáp viên trả lời, nếu trong câu trả lời của họ không có nhắc đến thông tin về bia giả, chai giả hay lon bia giả thì ngừng hoàn toàn phần hỏi về thông tin bia giả. Nếu câu trả lời của đáp viên có nhắc đến một trong các yếu tố vừa liệt kê, điều phối viên cần hỏi tiếp “thông tin về bia giả/chai giả/lon bia giả đó cụ thể là sao? Anh nghe nói ở đâu? Họ nói về bia gì vậy?..”.

Làm rõ các câu trả lời lấp lửng, diễn tả chung chung, khả năng không thực hay thiếu chỉ dẫn chứng minh. Ví dụ: câu trả lời lấp lửng “nhiều người nói em nên mua nhãn A vì…”,thì điều phối viên nên hỏi rõ “Thông thường, ai nói với em điều đó?” Hay như câu trả lời diễn tả chung chung “chất lượng nhãn hiệu A ngày càng đi xuống”, thì nên hỏi rõ thêm “Cụ thể là xuống như thế nào?”.

  1. Kết luận.

Nghiên cứu định tính là một trong hai phương pháp chính của nghiên cứu thị trường, với mục đích chính là khám phá, khai thác những thông tin bên trong, những ý kiến (insights) của khách hàng dựa trên các câu hỏi mở và quan sát thực tế. Đây là một phương pháp đòi hỏi cần có sự chuẩn bị kỹ càng và đầu tư của người nghiên cứu trong việc thiết kế nghiên cứu, đặc biệt, vai trò của người dẫn nhóm hay người điều phối (moderator) là hết sức quan trọng trong việc tuân thủ theo dàn bài câu hỏi (discussion guideline) để thu thập những thông tin định tính hữu dụng cho quá trình phân tích. Bài viết này với mục đích đưa ra một số nét chính về phương pháp định tính được dùng trong nghiên cứu thị trường hiện nay. Với khuôn khổ của bài viết không thể đi sâu phân tích chi tiết từng phương pháp cụ thể, công cụ hay kỹ thuật. Bài viết có sử dụng thông tin từ tài liệu đào tạo nội bộ và tổng hợp từ kinh nghiệm thực tiễn của nhóm tác giả kết hợp với cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu liên quan do đó không tránh khỏi những sai sót và tính chủ quan. Tuy nhiên, nhóm tác giả hy vọng sẽ cung cấp một cái nhìn chung về phương pháp này và gợi mở cho người đọc hướng nghiên cứu tiếp theo để lựa chọn các phương pháp, công cụ phù hợp ứng dụng trong dự án, đề tài nghiên cứu của mình.

 

Tài liệu tham khảo:

Malhotra, N.K.(1996). Marketing Research: An Applied Orientation (2nd ed.).Prentice‐Hall, Upper Saddle River.NJ.

Mike Imms & Gill Ereaut. (2002). An Introduction to Qualitative Market Research.Sage.

Philip Kotler & Gary Armstrong (1996). Principles of Marketing(7th ed.). Prentice Hall.

Donald, R.C., & Pamela, S.S. (2014).Business Research Methods(12th ed.).McGraw-Hill Irwin.

Carolyn Boyce & Palena Neale (2006).CONDUCTING IN-DEPTH INTERVIEWS: A Guide for Designing and Conducting In-Depth Interviews for Evaluation Input.Pathfinder International, US.

 

 

PHỤ LỤC

BẢNG HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN

Thị trường thanh toán tại Việt Nam (Payment Professional)

Chương trình phỏng vấn: 90 minutes

PHẦN A. Khởi động (Warm – up) 05 phút
PHẦN B. Xu hướng thị trường thanh toán Việt Nam hiện nay 15 phút
PHẦN C. Đặc điểm của người tiêu dùng và đối tượng tiềm năng 15 phút
PHẦN D. Xu thế điều hành kinh doanh thanh toán tại Việt Nam và những năng lực điều hành cần thiết. 30 phút
PHẦN E. Cơ hội và rào cản của các công ty nước ngoài khi tham gia kinh doanh tại Việt Nam. 20 phút
PHẦN F. Kết thúc (Wrap-up) 05 phút

 

Chi tiết:

PHẦN A. Khởi động (Warm – up)

Giới thiệu làm quen và giới thiệu qua các thông tin chung về dự án nghiên cứu.

 

PHẦN B. Xu hướng thị trường thanh toán Việt Nam hiện nay

1          Vui lòng mô tả cơ cấu thị trường thanh toán tại Việt Nam hiện nay (thanh toán bằng tiền mặt/ thanh toán không dùng tiền mặt)

1.1       Những phương pháp thanh toán / chuyển khoản chính hiện nay là gì? (tiền mặt, credit card, check card, thẻ ATM, internet banking, mobile banking, phone banking, thẻ thanh toán trước, ví điện tử, voucher,…)

1.2       Thị phần được phân chia giữa các phương thức thanh toán/ chuyển khoản như thế nào?

[Điều phối viên: tùy vào đối tượng đáp viên mà Điều phối viênsẽ hỏi câu 1.3 đến 1.5]

1.3       Mô tả cơ cấu thị trường thanh toán tại Việt Nam

(Quy trình thanh toán, những cổ đông chính, quan hệ giữa các cổ đông, quan hệ về lợi nhuận, …)

1.4       Mô tả cơ cấu thị trường credit card ở Việt Nam

(Quy trình thanh toán bằng credit card, những cổ đông chính, quan hệ giữa các cổ đông, quan hệ về lợi nhuận, …)

1.5       Mô tảcơ cấu thị trường chuyển khoản ở Việt Nam

(Quy trình chuyển khoản, những cổ đông chính, quan hệ giữa các cổ đông, quan hệ về lợi nhuận, …)

2          Vui lòng mô tả những biến đổi thị trường về phương thức thanh toán/ chuyển khoản trong những năm gần đây.

2.1       Anh/ Chị nhận thấy phương thức thanh toán/ chuyển khoản nào có sự tăng trưởng lớn/ đáng kể trong những năm gần đây? Lý do là gì?

(Lưu ý: Điều phối viên đảm bảo hỏi đáp viên về xu hướng trong phát hành credit card/ check card)

3          Theo Anh/ Chị, điều gì khiến thanh toán bằng tiền mặt/ chuyển khoản là phương thức thanh toán phổ biến nhất tại Việt Nam?

3.1       Có phải là do tình hình thực tế/ văn hóa? Cơ sở hạ tầng?

3.2       Người Việt Nam thường để dành bao nhiêu tiền mặt? (%)

3.3       Người Việt Nam thường gửi nhân hang bao nhiều tiền? (%)

4          Theo Anh/ Chị, những công ty dẫn đầu hệ thống thanh toán Việt Nam hiện nay là công ty nào? (tính theo thị phần)

4.1       Công ty nào đang dẫn đầu trong mỗi hình thức? (prepaid card/ credit card/ points/ voucher)

4.2       (Đối với mỗi đối tượng nêu trên) Xét về phương diện kinh doanh, công ty đó lớn mạnh/ thành công như thế nào?

4.3       Những yếu tố tác động chính đến sự tăng trưởng kinh doanh là gì?

5          Anh/ Chị có dự đoán gì về thị trường thanh toán không dùng tiền mặt trong tương lai? Điều gì khiến Anh/ Chị dự đoán như vậy?

5.1       Triển vọng thị trường đối với từng loại hình (chargeable/ non-chargeable)

6          Anh/ Chị dự đoán điều gì là yếu tố quyết định trong việc tăng trưởng kinh doanh? Điều gì khiến Anh/ Chị dự đoán như vậy?

 

PHẦN C. Đặc điểm của người tiêu dùng và đối tượng tiềm năng

7          Vui lòng cho biết đặc điểm người tiêu dùng thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.

7.1       Sự khác nhau giữa hai đối tượng này như thế nào? Lý do là gì?

7.2       Lợi ích kì vọng giữa hai phương thức thanh toán trên là gì?

7.3       Dựa trên tình hình thực tế hiện nay, Anh/Chị nhận định xu hướng như thế nào? Điều gì khiến Anh/ Chị nhận định như vậy?

(Dựa trên kinh doanh online/ offline)

8          Anh/ Chị dự đoán đối tượng người tiêu dùng nào sẽ là nền tảng của hệ thống thanh toán/ chuyển khoản không dùng tiền mặt trong thời gian sắp tới? Điều gì khiến Anh/ Chị dự đoán như vậy?

8.1       Đặc điểm nhóm người tiêu dùng này là gì?

8.2       Mục đích/ tình huống sử dụng thanh toán/ chuyển khoản không dùng tiền mặt là gì?

9          Theo Anh/ Chị, những yếu tố chính nào cần cân nhắc để chuyển đổi người tiêu dùng từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt?

9.1       Để đẩy mạnh lợi thế.

9.2       Để loại bớt rào cản.

 

PHẦN D. Xu thế điều hành kinh doanh thanh toán tại Việt Nam và những năng lực điều hành cần thiết.

10        Anh/ Chị nhận thấy xu hướng hiện nay của cơ sở hạ tầng liên quan đến hệ thống thanh toán là gì? (máy POS, ATM)

10.1    Cách thức install máy POS (ai chịu trách nhiệm? có điều kiện/ ràng buộc gì hay không?)

10.2    Có phải dùng máy POS khác nhau cho các loại credit card khác nhau hay không? (issue/ install bởi công ty tài chính, công ty tư nhân,…)

10.3    Vui lòng mô tả tình hình thị trường ATM hiện nay? ( xét về số lượng máy ATM, máy ATM chỉ cho phép rút tiền, máy ATM cho phép rút & nạp tiền)

10.4    Cách thức install máy ATM (ai chịu trách nhiệm? ngân hang hay công ty tư nhân?)

11        Vui lòng mô tả đặc điểm chính sách của Chính Phủ liên quan đến phương thức thanh toán trong TMĐT và định hướng chính sách hoạt động trong thời gian tới.

(Nhìn chung, hỏi về quy trình thanh toán không dùng tiền mặt. Sau đó, hỏi về mỗi hình thức thanh toán: prepaid card, credit card, points, voucher)

12        Anh/ Chị nhận thấy công ty nào đang dẫn đầu về hình thức prepaid card (mobile – di động/ EC/công ty tài chính)? Anh/ Chị phân loại những công ty này như thế nào?

12.1    Đặc điểm của mỗi mô hình kinh doanh là gì? (điểm mạnh/ lợi thế, điểm yếu)

13        Vui lòng mô tả quá trình điều hành kinh doanh thanh toán tại Việt Nam.

13.1    Toàn bộ quá trình từ thành lập cho đến hoạt động điều hành.

13.2    Liệu việc kinh doanh một cổng thanh toán dạng VAN trong đó các công ty phát hành thẻ là thành viên có khả thi hay không?

(Banknetvn, Smartlink có hoạt động tương tự như VAN nói trên?)

14        Khi thành lập doanh nghiệp kinh doanh thanh toán, điều gì/ những yếu tố nào cần xem xét hoặc đặc biệt chú trọng?

(Vui lòng xác định sự khác nhau giữa các hình thức thanh toán: prepaid cards, credit cards, points, vouchers)

14.1    Về mặt xin cấp phép

14.2    Về mặt đăng ký pháp lý (VD: cổ phần cho phép/ giới hạn với nhà đầu tư nước ngoài, học được xác định/ định nghĩa trong kinh doanh như thế nào?)

14.3    Reserve franchise branch

14.4    Reserve members

14.5    Doanh nghiệp đối tác yêu cầu/ cần thiết đối với mỗi loại hình (VD: liên kết với ngân hàng…)

15        Khi điều hành doanh nghiệp kinh doanh thanh toán, điều gì/ những yếu tố nào cần xem xét hoặc đặc biệt chú trọng?

15.1    Về quy định pháp luật

15.2    Về việc đóng thuế/ chịu thuế

15.3    Về đảm bảo chất lượng chi nhánh

15.4    Về điều hành thành viên

15.5    Những lưu ý khác

16        Cơ cấu lợi nhuận của mỗi nhóm kinh doanh như thế nào?

16.1    Lợi nhuận kì vọng

16.2    Cơ cấu hoa hồng thương mại/ kinh doanh

16.3    Phương pháp phân chia hoa hồng cho cổ đông (xác định cho mỗi hình thức: mobile base-nền di động/ EC base-nền thương mại điện tử/ tổ chức tài chính)

17        Vui lòng cho biết yếu tố/ năng lực nào bắt buộc phải có để hoạt động kinh doanh thanh toán ở Việt Nam. Xin trả lời theo thứ tự quan trọng.

17.1    Về cơ sở hạ tầng

17.2    Về công nghệ

17.3    Về vốn đầu tư

18        Hoạt động marketing/ promotion nào cần phải có để tăng hiệu quả kinh doanh thanh toán trong TMĐT ở Việt Nam?

18.1    Các channel cần phải tập trung

18.2    Ý tưởng cho các hoạt động marketing chính (VD: quảng cáo, sự kiện dùng thử sản phẩm,…)

 

PHẦN E. Cơ hội và rào cản của các công ty nước ngoài khi tham gia kinh doanh tại Việt Nam.

19        Anh/ Chị có dự đoán gì nếu một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia kinh doanh thanh toán tại Việt Nam?

19.1    Anh/ Chị mong đợi điều gì?

19.2    Có điều gì làm Anh/ Chị lo lắng không?

20        Nếu một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia kinh doanh thanh toán tại Việt Nam, hình thức kinh doanh nào sẽ mang lại hiệu quả nhất?

20.1    Vui lòng cho biết ý kiến về việc tham gia vào thị trường prepaid card chẳng hạn như paypal/ Alipay,…

20.2    Vui lòng cho biết ý kiến về việc tham gia vào thị trường ví điện tử/ voucher

21        Liệu một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường thanh toán tại Việt Nam có gặp trở ngại hay không? Trở ngại đó là gì?

21.1    Về mặt ghi nhận (nhận định như thế nào về 1 công ty nước ngoài)

21.2    Về sự cạnh tranh trong kinh doanh

21.3    Về mặt xin phép kinh doanh

21.4    Về mặt vận hành/ quản lý

22        Anh/ Chị nhận thấy điều gì có thể giúp doanh nghiệp loại trừ hiệu quả những trở ngại nêu trên và thâm nhập thị trường thành công?

23        Vui lòng cho biết có trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nào tham gia vào thị trường TMĐT Việt Nam mà Anh/ Chị liên hệ đến hoặc lấy làm chuẩn mực hay không?

23.1    Những ví dụ điển hình về việc kinh doanh thành công/ thất bại.

 

Phần F. Kết thúc (Wrap-up)

[1]Former Associate Research Manager at Kadence International

[2]Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở 2 tại Tp. HCM

[3] Bài viết có sử dụng một số tài liệu đào tạo lưu hành nội bộ

[4]Phương pháp này trong nghiên cứu xã hội học và nhân văn dịch là Phương pháp dân tộc học, nhưng trong nghiên cứu thị trường, các công ty thường vẫn sử dụng từ tiếng Anh là phương pháp ethnography

Sexy Little Number – đọc và tự vọc thử luôn – note 6

Lại cuốn sách Hiểu số để tăng số và việc áp dụng những gì đọc được vào Airbnb của tata ^_^

Hiện tại là gần cuối tháng 9 rồi, tức là căn Airbnb đầu tiên của tata làm được gần 2 tháng, tháng 8 và tháng 9. Nếu để ý kỹ 1 chút, sẽ là 1 tháng rơi vào thời điểm mùa du lịch, và một tháng là mùa không du lịch ở Vũng Tàu. Do đó, khi phân tích số liệu theo Dữ liệu nội bộ cũng phải để ý đến yếu tố ‘mùa vụ’ này.

“Dữ liệu nội bộ” là cụm từ tata học từ trong sách trang 112, mô tả cách thức làm sao từ những dữ liệu thô sẵn có, có thể rút ra được nhiều thông tin hữu ích.

Dữ liệu thô (được đề cập trong sách) ví dụ như giờ mua hàng, ngày mua, mã cửa hàng, mã vật phẩm, giá bán, giá cho nhà bán lẻ, phương thức thanh toán, mã khách hàng,..

Với dữ liệu thô này, có thể hiểu được một số khía cạnh hay, như:

  • khách hàng sống ở đâu
  • những đặc tính về mặt phân khúc xã hội của mã bưu điện nơi khách hàng này sống
  • phương tiện truyền thông nào tiếp cận đến khách hàng và được phản hồi lại

Cách thức tìm thấy những thông tin từ dữ liệu thô này là nhờ phương pháp “single customer view” (góc nhìn đồng nhất về người tiêu dùng)

 

tata thấy cách này hay quá, và nhân tiện Airbnb ở Vũng Tàu cũng đã làm được 1 thời gian, cũng tạm gọi là có dữ liệu nội bộ để xem xét vọc thử.

[trước tiên, phải làm bước cơ bản như note 2 đã đề cập, Sale Funnel, và so sánh data giữa tháng 8 và tháng 9 – đại diện cho mùa du lịch và mùa không du lịch

sln-note-6-hinh-1

kết quả này là bình thường so với mùa du lịch của một số căn airbnb khác theo như note 3 mà tata có chia sẻ. ui, tata chỉ giỏi phân tích thôi, còn tự làm cho mình thì dở ẹc. ahuhu]

Quay lại vấn đề dữ liệu nội bộ, ngoài dữ liệu này, còn có thể có những dữ liệu như:

  • [loại nghĩ ngay đến]
    • số ngày đặt thuê,
    • nhóm khách có mấy người,
    • giá tiền vào thời điểm đặt (do tata có thay đổi pricing để tìm hiểu)
  • [loại nghĩ đến cũng nhanh]
    • giới tính của khách,
    • quốc tịch của khách,
    • nhóm khách là dạng nào (gia đình, gia đình có con nhỏ, nhóm bạn bè)
  • [loại nghĩ nhiều 1 chút thì sẽ nghĩ đến]
    • {dựa trên hành vi của khách} lượng khách book instantly (chức năng book nhà ngay lập tức của Airbnb không cần thông qua chủ) trên tổng số và là loại khách nào làm việc này
    • {dựa trên hành vi của khách} so với ngày đặt phòng/nhà, khách sẽ tìm kiếm trước đó là bao nhiêu ngày – dựa trên việc khách sent inquiry hỏi mình so với ngày họ muốn book.
    • {dựa trên thái độ của khách} khách có trả giá không. (haha, cái này lạ phải không, nhưng thật sự là có đấy ^_^), và nếu có trả giá thì là nhóm khách như thế nào.

Với cách này, tata dần hiểu rõ hơn căn hộ Airbnb ở Vũng Tàu mà tata đang làm đang biểu hiện như thế nào trong mắt khách hàng tiềm năng, và với nhóm khách hàng tiềm năng nào, và cách để đáp ứng nhu cầu cũng như nhiều khi nói không (với giảm giá) của khách nữa ^_^

#happy_reading_sexylittlenumbers

 

what i might see for the end of 2016

[Vietnam market]

there is a noticeable shift towards protecting and maintaining fundamental human needs, to name a few: safety of family, finding security and secure own future, risk adverse, stability focus
-> shoppers tend to be more mindful (maintaining or scaling down would be seen yet still keep remained lifestyle balance)
-> affluent families focus on where to place their investments (gold would be their top choice, reduce stocks/money on securities market, hesitation seen for domestic real estate while greater focus on that of outside VN)

 

[this is my guess. it might turn out right or wrong, yet making a guess is a root of my investment these days 🙂 ]

Gap year – linh tinh mà thực tế – note 2

Lại nói tiếp về gap year – vẫn là vấn đề đầu tiên, tiền đâu? ^_^

[nhắc lại của note 1:

Có thể chia vấn đề tài chính thành 3 giai đoạn liên quan đến gap year, (1) hiểu tình hình tài chính của bản thân trước gap year, (2) tiền của mình đang ra sao trong thời gian gap year, (3) vấn đề tiền bạc sau giai đoạn gap year]

 

(2) tiền của mình đang ra sao trong thời gian gap year

Tiền là tiên là phật, là sức khỏe của cụ già, là món quà cho em nhỏ… ^_^ hehe, linh tinh vậy thôi, chứ đúng là tiền trong giai đoạn gap year quan trọng lắm, vì:

  • nếu tiền nhanh hết đi, thì khoản thời gian “gap” sẽ bị rút ngắn siêu nhanh
  • nếu tiền chỉ có tiêu mà không có tự động sinh ra thêm, thì cảm giác của bản thân trong giai đoạn gap sẽ dần dần bứt rứt và lo lắng tăng thêm
  • nếu tiền cạn dần đến gần hết thì khi đó, giai đoạn chuẩn bị cho đi làm trở lại sẽ cực kỳ bối rối và nhiều khi là xài hết tiền rồi mà vẫn chưa kiếm được job ngon, đúng ý trở lại

còn nhiều yếu tố nữa, bạn có thể nghĩ ra thêm, với tata thì 3 cái này là quan trọng nhất để nghĩ đến 1 chuyện, làm sao cho tổng số tiền của mình đang có sẽ bị hao hụt ít nhất có thể trong giai đoạn gap này.

tata dựa vào công thức đơn giản:

tiền còn lại = tiền đang có (A) – tiền tiêu xài (B) + tiền phát sinh thêm (C)

như vậy, muốn phần tiền còn lại nhiều/vẫn còn nhiều thì hoặc là tiền đang có siêu nhiều (kiểu mấy bạn có 1 tỷ trở lên thì sướng, khỏi lo luôn ^_^), hoặc/và tiền tiêu xài phải ít đi, hoặc/và có tiền phát sinh thêm trong giai đoạn gap.

 

Đi vào từng khía cạnh nhỏ nhé ^_^

(A) tiền đang có:

  • như note 1 có nói, tiền đang có là dạng tiền saving, tata là tuân thủ quy luật 3-6 tháng lương để dành phòng hờ
  • ngoài tiền saving kiểu emergency fund, tata có nhiều thể loại saving khác nữa, ví dụ như tiền tiết kiêm để đi du lịch, tiền tiết kiệm mua sắm cái này cái kia,…  trong giai đoạn gap year, thì cứ tính hết toàn bộ tiền tiết kiệm này để hiểu là mình có thể “sống thoải mái” đến càng lâu càng tốt
  • có 1 chuyện vô tình xảy ra trong giai đoạn gap, là căn nhà tata tích góp, đùng 1 cái, bán được giá, bán luôn! thế là tự nhiên “tiền đang có” trở nên nhiều kinh hãi. nhưng đây là trường hợp hy hữu, không nên được liệt kê vô làm kế hoạch ban đầu cho việc lên kế hoạch cho gap year.

(B) tiền tiêu xài:

  • vẫn là phải tiêu xài theo cách thông thường như khi đi làm là tốt nhất, vì như vậy, sẽ tận hưởng được trọn vẹn thời gian gap này mà không thấy bản thân bị đẩy vào cảnh phải dè xẻn quá mức
  • để xài ít tiền hơn mà vẫn giữ được lối sống như thường khi, có thể (tata chọn cách này, tùy người thấy hợp thì làm)
    • lập ra danh sách những thứ không thể không tiêu. ví dụ, với tata là 1 tháng không thể không đi mua sách 1 lần, không thể không ăn bò beefsteak 2-3 lần, không thể không đi cafe hay bar với bạn bè 2 tuần 1 lần, …
    • trong danh sách những điều không thể ấy, điều nào có thể chuyển hóa sang dạng chi tiêu khác để bớt tiền tiêu xài mà vẫn thỏa mãn nhu cầu bản thân thì chuyển hóa, cái nào ko thể chuyển hóa thì thôi. ví dụ:
      • mua sách để đọc, cũng là để dành. vì trong gap year, tạm thời có thể bỏ qua vụ “để dành”, bồi bổ phần để đọc thôi. vậy, có vài option thay thế: làm thẻ thư viện thành phố (rẻ, bao la lựa chọn); mượn sách của bạn (hên, tata có bạn làm xuất bản sách luôn, nên tủ sách bao la, tha hồ tha về đọc), sách ở nhà nhiều khi chưa đọc hay quyển nào hay thì đọc lại,…
      • ăn beefsteak. vẫn ăn, nhưng thay vì ra quán, tự làm ở nhà. cái này thì đòi hỏi 1 chút công phu nấu ăn để ngon được như quán, còn chắc chắn nấu ở nhà là đồ ăn cùng 1 chất lượng và rẻ hơn tận 3-4 lần.
      • đi cafe với bạn bè, thay vì ngày xưa đi mấy chỗ lung linh và không quan tâm về giá, thì giờ mấy đứa nào thân thân, nói thẳng với tụi nó là “tao nghèo, tiết kiệm nha, đi quán nào tầm 30-40k/ly đi, ko đi mấy chỗ như coffeebean này nọ thường sẽ tầm 80-90k/ly. thế là vẫn vui, vẫn cafe cà pháo thoải mái và không lo về tiền ^_^  bar/pub cũng là dạng tương tự.
      • đi du lịch, thay vì đi hoành tráng và tự do như bình thường. có thể chuyển hóa thành giúp công ty của bạn tổ chức team trip / company trip, khi đó sẽ vừa được đi du lịch vừa được miễn phí (chỉ có thêm công giúp bạn tổ chức thôi. ahihi)
      • … [nhiều lắm, thể nào cũng nghĩ ra thêm nhiều trò để tiết kiệm mà vẫn vui]

(C) tiền phát sinh thêm:

  • đây bảo đảm là 1 chuyện cực hay nếu có thể có trong giai đoạn gap year. vừa có thể kéo dài thời gian gap (nếu chơi đã quá, muốn chơi tiếp), vừa an tâm là tiền để dành không bị hao hụt nhiều, bớt đau khổ xót xa ^_^
  • tiền phát sinh thêm, có bằng cách nào? một vài ý tata tự làm, có thể gợi ý thử:
    • tata ban đầu tính cho thuê căn nhà của tata, sau đó dọn sang nhà anh 2 hay nhà bạn ở. thế là sẽ có thêm 1 khoản tiền mỗi tháng. (mà đó là ý định ban đầu thôi, chưa kịp làm thì đã bán mất tiêu. hehe)
    • tata nhận biên tập sách, làm chút chút vừa vui vừa có thêm chút tiền
    • nhận job research, làm ít ít, vừa đỡ quên nghề vừa có thểm chút thu nhập
    • tiền lãi do đầu tư
    • tiền lời do kinh doanh airbnb ở Vũng Tàu

 

chỉ có vậy thôi. bạn nào có ý hay hơn có thể chia sẻ. cùng nhau, chúng ta gap year hoành tráng ^_^