Bài 12 – Nghiên cứu định tính là gì, tại sao cần, thực hiện ra sao, khi nào nên dùng,..? {Loạt bài viết về Nghiên cứu thị trường} (tiếp theo)

Tiếp theo bài 5, tata tiếp tục nói về quy trình thực hiện một dự án nghiên cứu định tính. Quy trình thực hiện dự án nghiên cứu định tính có thể tóm gọn trong hình bên dưới, gồm 4 giai đoạn chính với các bước công việc liên quan.

qualitative research process

Giai đoạn 1: Từ khi doanh nghiệp/khách hàng (client) có nhu cầu làm nghiên cứu đến đề xuất nghiên cứu để giải đáp được nhu cầu thông tin của client.

Nhà nghiên cứu định tính (Qualitative researcher) sẽ dựa trên nhu cầu kinh doanh của khách hàng, “dịch ra” các câu hỏi lớn mà  một cuộc nghiên cứu cần giải đáp để từ đó viết nên đề xuất nghiên cứu (research proposal) đưa ra các thông tin làm cái gì, làm như thế nào, dựa trên cơ sở gì, thời gian làm ra sao và ai là người đảm trách, cuối cùng thường là chi phí bao nhiêu.

Qúa trình này thật ra cũng tương tự bên nghiên cứu định lượng.

Giai đoạn 2: Thực hiện các bước chuẩn bị cho việc thực hiện dự án, bao gồm việc tuyển đáp viên phù hợp lên nhóm (Focus Group Discussion) hay tuyển đáp viên cho các loại hình khác (đã giới thiệu trong bài 5), chuẩn bị các vật dụng cần thiết cho việc phỏng vấn như tài liệu ý tưởng (nếu test concept), hay sản phẩm (nếu test product), hay TVC concept/finished one.. ; và quan trọng nhất, là chuẩn bị bảng câu hỏi cho phỏng vấn nhóm/IDI/…

Lưu ý, bảng câu hỏi cho phỏng vấn này được thiết kế như một dàn bài (outline) cho buổi phỏng vấn, gồm các vấn đề cần hỏi và những câu hỏi gợi mở; khác hoàn toàn với bảng câu hỏi của nghiên cứu định lượng (thường mọi người sẽ nhìn thấy loại này hơn).

Ví dụ cho dễ hình dung, một mục tiêu trong dự án định tính là “tìm hiểu thói quen sử dụng điện thoại di động” của người sử dụng điện thoại di động thông minh (smartphone), thì qualitative researcher phải dự tính được mình sẽ hỏi những điều gì, yếu tố nào để khám phá ra được những thông tin hữu ích. Khi đó, họ sẽ ghi ra một dàn bài câu hỏi (discussion guide) có thể sẽ hỏi như sau:

[cái này tata ví dụ thôi nhé ^_^]

Thói quen sử dụng điện thoại di động:

Trước tiên, miêu tả khái quát về thói quen sử dụng điện thoại di động của bạn/anh/chị?

  • Hỏi chung chung: sở hữu/sử dụng điện thoại hiện di động hiện tại bao lâu rồi?
  • Những hoạt động nào bạn/anh/chị thực hiện thường xuyên nhất? [để đáp viên kể ra, gợi ý còn gì nữa không? Cuối tuần có khác gì không? Buổi tối thì có làm gì nữa?….]

Có thể gợi ý thêm:

  • Gọi và nhận cuộc gọi, nhắn tin [hoạt động cơ bản của điện thoại]
  • Lướt web: xem tin tức, tìm thông tin, xem email và tin nhắn, xem clip online, nghe nhạc, tìm các ứng dụng, trang mạng xã hội…
  • Nghe nhạc
  • Chơi games
  • Xem phim ảnh
  • Tải: ứng dụng, game, clips, nhạc
  • Khác

      Hoạt động cần internet, những hoạt động nào, làm thế nào để kết nối internet? (Wifi, 3G, GPRS)

Mức độ thường xuyên sử dụng điện thoại nói chung và cho từng hoạt động cụ thể?

  • Thời điểm nào?
  • Có sự khác biệt nào giữa ngày trong tuần và cuối tuần không?
  • Các hoạt động diễn ra bao lâu (tính theo phút/ giờ)?
  • Mức độ hài lòng với chiếc điện thoại di động hiện tại? Có điểm nào thích, điểm nào không thích? Kỳ vọng/mong muốn gì khác ở điện thoại không? Gợi ý về chức năng, về cách sử dụng,…

 

Giai đoạn 3: Thực hiện phỏng vấn, qualitative researcher là người thực hiện phỏng vấn với các đáp viên đã tuyển. Người thực hiện phỏng vấn được gọi là moderator, bạn này thường có duyên ăn nói (nói chuyện làm người ta thích, người ta muốn nói, muốn chia sẻ với mình thật nhiều), biết cách đặt câu hỏi (mặc dầu có dàn bài sẵn rồi, nhưng biết hỏi khi nào, khai thác ra sao, hỏi cái nào trước cái nào sau cho hợp dòng câu chuyện đang diễn ra,..), hiểu biết về ngành hàng, sản phẩm đang (để khai thác thông tin hiệu quả, khám phá ra những điều chưa biết – unspoken truth),… Túm lại, kỹ năng của người moderator đòi hỏi rất cao, và người moderator càng giỏi đảm bảo cho sự thành công của dự án (kết quả đầu ra làm hài lòng người nhận kết quả), nhiều lúc lên tới 50% sự thành công.

Ngoài ra, cũng phải kể đến sự hỗ trợ nghe nhóm/IDI,.. của người làm cùng. Vì người moderator khi dẫn nhóm có rất nhiều thứ phải lo, nhiều lúc không quán xuyến hết, hơn nữa họ là người trong cuộc nói chuyện nên nhiều lúc không để ý hết. Người hỗ trợ là người ngoài cuộc, chăm chú lắng nghe, quan sát,… cuộc nói chuyện và theo dõi những điểm nào cần được khai thác thêm, những điểm nào cuộc nói chuyện vô tình vuột qua mà chưa đả động đến.

(điểm này khác biệt với nghiên cứu định lượng, bảng câu hỏi sẽ do các phỏng vấn viên thực hiện, không đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng cao)

Giai đoạn 4: Phân tích dữ liệu đã có (dữ liệu ở đây là bằng chữ, bằng lời của đáp viên trong các buổi nói chuyện). Phần này là cả một nghệ thuật (tata nghĩ vậy ^_^, sẽ bàn trong các bài sau nhé)

[bài viết dưới góc nhìn cá nhân, sự hệ thống hóa cũng dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học và làm. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp và câu hỏi từ các bạn trong và ngoài ngành để “mài bén” kiến thức này hơn nữa ^_^ ]

Advertisements

Bài ** – Tự làm nghiên cứu thị trường cho sản phẩm của mình {Loại bài viết về Nghiên cứu thị trường}

Tata từng nghe nhiều người nói, chỉ có công ty lớn, nhiều tiền nhiều vốn, mới làm nghiên cứu thị trường, chứ công ty nhỏ thì tiền đâu ra mà làm. Hay nghiên cứu phải nghiên cứu trên nhiều người, 1000 người chẳng hạn, chạy đi phát bản câu hỏi rồi phỏng vấn, rồi chạy data phân tích này nọ, công ty nhỏ ít vốn đâu có làm nổi…

Thật ra, nghĩ như vậy là hơi .. nhầm một chút rồi. Thật ra nghiên cứu thị trường, thiết yếu là dựa vào việc thu thập dữ liệu (1) và phân tích dữ liệu đó thành thông tin hữu ích (2) giúp cho hoạt động kinh doanh, marketing hay chiến lược nào đó.

Nhiều người thường nghĩ việc (1)- thu thập dữ liệu – nhất thiết phải là chạy ra ngoài đưa bảng câu hỏi cho đáp viên để lấy lại dữ liệu/thông tin là hơi nhìn phiến diện. Đó chẳng qua chỉ là một trong các dạng thức để có được dữ liệu, còn nhiều dạng thức khác lắm, nhất là trong thời công nghệ thông tin này.

Việc (2) – phân tích dữ liệu thành thông tin hữu ích – việc này là khó nhất, quan trọng nhất, dân research thường hay ví von là  “combination of art and science” là ở công đoạn này. Dữ liệu ngày nay nhiều lắm, dễ kiếm nữa, sự khác nhau là ở chỗ ai nhìn ra được vấn đề, hay cơ hội từ những dữ liệu đang có.

Lấy 1 ví dụ cụ thể, job làm thêm của tata để minh họa 2 việc này. Cùn g với bạn mình, tata có thực hiện việc market cho 1 app đọc truyện trên android – Hiệp Truyện.

Tìm kiếm dữ liệu về market này, việc (1). Dữ liệu thứ cấp (desk research) thu thập bằng cách xem trên trang google play, hiện nay có tất cả bao nhiêu competitors, lượng users của từng app, từ đó có thể phỏng đoán market size là khoảng bao nhiêu users cho loại hình app đọc truyện này – việc (2)

nctt - market size

Việc market app đến users, trước tiên phải hiểu họ là ai, họ ở đâu, họ thích gì.. để “dụ” họ cài app của mình. Khi đó, có thể đọc từ data của những users app bạn đang có.. hoặc xem ké từ đối thủ. Ví dụ, google analytics giúp bạn có những thông tin này – việc (1) – một cách rất chính xác mà không cần phải đi ra ngoài đường cầm bảng câu hỏi hỏi đáp viên. Việc còn lại là nhặt được thông tin hữu ích gì từ data đó. Data thu gom được – việc (1) – nhiều mênh mông, từ google analytics, từ facebook page manager (nếu bạn có làm fan page), từ google plus,.. giúp bạn hiểu được users của mình ở đâu, làm gì trong app, dùng app trong bao lâu,…

nctt - demographics

Khi đã rõ users là ai, việc tiếp theo thiên về công việc marketing, có chiến lược gì, hoạt động nào để khiến users biết đến app của mình.  (cái này thì tata là gà thôi, không giỏi 1 chút xíu nào 😀 )

Do đó, trong thời buổi công nghệ, ai cũng có thể tự mình đào luyện khả năng làm research nếu muốn, dựa vào lượng data thặng dư như hiện nay. Recommend một site cho những bạn quan tâm (nếu hiện tại chưa có project nào cụ thể như kiểu tata để thực tập), trang http://www.thinkwithgoogle.com/  sẽ học được nhiều cách nhìn ra trends, insights từ data đang có.

Bạn nào có câu chuyện thực tế nào hay hay về tự làm nghiên cứu thị trường cho mình thì share với tata nhé 🙂

Bài 11 – Qúa trình phát triển/cải tiến sản phẩm – Product innovation process (Tiếp theo) {Loại bài viết về Nghiên cứu thị trường}

Bài trước đã đi sơ lược về quá trình phát triển hoặc cải tiến ý tưởng/ sản phẩm. Bài viết này nói cụ thể hơn một chút tại sao và khi nào thực hiện việc này.

Tại sao cần phải nghiên cứu đánh giá ý tưởng (concept evaluation)?

Nghiên cứu đánh giá ý tưởng sẽ giúp cho marketers có thêm thông tin để ra quyết định, với các câu hỏi họ thường gặp phải như:

  • Có thật sự là ý tưởng về sản phẩm của họ liên quan/ gắn kết với nhu cầu của người tiêu dùng (relevancy)?
  • Đô tin cậy của ý tưởng như thế nào trong mắt người tiêu dùng, với tất cả những yếu tố hỗ trợ mà tôi đang đưa ra? Liệu họ có cảm thấy tin tưởng không? (credibility)
  • Người dùng cuối liệu có cảm thấy thoải mái khi sử dụng sản phẩm mới này với dạng thức được đưa ra (comfortability with the offered format). [ví dụ như ngành sữa chua, hiện nay khá đa dạng với format dạng sữa chua ăn, sữa chua uống, ..]
  • Trong hoàn cảnh nào, ra sao và khi nào thì sản phẩm của tôi thật sự trở thành một phần trong đời sống của người tiêu dùng. (fit into consumer’s life). [ví dụ về sữa chua uống, khá mới mấy năm gần đây, người tiêu dùng có tiếp nhận không và trong hoàn cảnh nào, khi nào thì việc tiếp nhận của họ trở nên dễ dàng với sản phẩm mới này?]

Và còn nhiều câu hỏi khác nữa.. để một ý tưởng thật sự thành công và được người tiêu dùng tiếp nhận.

Tại sao cần phải nghiên cứu đánh giá sản phẩm (product evaluation)?

Nghiên cứu đánh giá sản phẩm rất cần thiết khi có nhu cầu:

  • Liên tục cải tiến sản phẩm để nâng cao sự hài lòng của khách hàng theo thời gian (hoặc do đối thủ có chiến lược này và để sản phẩm của mình cạnh tranh được, bản thân công ty cũng phải tham gia vào quá trình liên tục cải tiến / phát triển sản phẩm)
  • Tìm kiếm hướng đi để nghiên cứu và phát triển sản phẩm. (Khác với ở trên một chút, ý trên là mình có sản phẩm hoàn chỉnh rồi, trước khi tung ra, mình muốn xem liệu người tiêu dùng có thích không, hay thích hơn sản phẩm đối thủ không. Còn ý này là mình muốn phát triển sản phẩm, mà chưa biết nên bắt đầu từ đâu, hướng đi nào, nên phải nghiên cứu tìm kiếm định hướng)
  • Dùng trong quảng cáo/ quảng bá, nói rằng “sản phẩm của tôi là số 1 trong ngành…” chẳng hạn. Các công ty có thể sử dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá sản phẩm để làm bảo chứng cho những điều mình nói trên phương tiện truyền thông (tất nhiên là nghiên cứu phải có độ tin cậy cao và có kết quả như mong muốn thực hiện quảng bá của công ty)
  • Để chắc chắn rằng sản phẩm mình đang có vượt trội hơn / tốt hơn sản phẩm của đối thủ. (lo xong cái P product, an tâm focus vào 3Ps còn lại J )
  • Khi muốn thay đổi công thức sản phẩm đang có (vì nhu cầu giảm chi phí chẳng hạn) mà không làm sản phẩm mất đi tính ưu việt vốn có. [Ví dụ, một hãng cà phê hòa tan 3 trong 1 nào đó, muốn cắt giảm chi phí, có thể cắt giảm từ chi phí sản xuất, bằng cách thay đổi một chút trong công thức sản phẩm. như là thay đổi loại đường dùng trong bột hòa tan, giúp giảm chi phí sản xuất. Nhưng công ty cũng ngại/sợ người tiêu dùng sẽ cảm thấy sản phẩm không còn ngon nữa, nên họ phải làm nghiên cứu, để chắc chắn là người tiêu dùng, hoặc có thể không nhận ra sự khác biệt của sản phẩm mới và cũ, hoặc giả có nhận ra một chút nhưng không làm cho sản phẩm vì thế mà kém hấp dẫn.]
  • Nghiên cứu tác động của thời gian lên chất lượng sản phẩm (trường hợp này ít gặp). Ví dụ, 1 sản phẩm sữa chua có thể có hạn sử dụng là 6 tháng. Công ty sản xuất muốn biết liệu người dùng, khi dùng sản phẩm trong vòng tháng đầu tiên với người dùng dùng sản phẩm gần ngày hết hạn, liệu chất lượng sản phẩm có bị dở đi hay nhìn kém đẹp mắt không,…

Và có thể có hàng trăm lý do khác phát sinh nhu cầu nghiên cứu cho sản phẩm.

[bài viết dưới góc nhìn cá nhân, sự hệ thống hóa cũng dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học và làm. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp và câu hỏi từ các bạn trong và ngoài ngành để “mài bén” kiến thức này hơn nữa ^_^ ]

Bài 10 – Qúa trình phát triển/cải tiến sản phẩm – Product Innovation Process {Loại bài viết về Nghiên cứu thị trường}

[hôm qua tata về trường cũ, được thầy tặng quà, là sản phẩm của sinh viên của khoa làm ra. Thật sự rất vui và tự hào với các bạn sinh viên của khoa mình bây giờ, dám nghĩ dám làm và được hỗ trợ từ thầy cô trong khoa. J cũng vì vậy, bài viết này lấy cảm hứng từ món quà này, nói về innovation journey – hành trình sáng tạo một sản phẩm – chia sẽ với góc nhìn của người làm research]

Trong marketing, thường nghe đến 4P (Product, Place, Promotion, Price). Qúa trình hình thành và phát triển một sản phẩm/dịch vụ, thường phải luôn quan tâm đến 4 yếu tố này trong tất cả các giai đoạn. Tuy nhiên, bài viết này chỉ nói đến 1 chữ P – Product thôi.

Hình thành một sản phẩm mới là một quá trình dài hơi, ý tưởng cho đến sản phẩm sẽ được chọn lựa kỹ càng và tiếp tục phát triển liên tục để cuối cùng, đưa sản phẩm ra thị trường. Tất cả quá trình này nhằm mục tiêu giúp cho sản phẩm có được cơ hội phát triển và được thị trường đón nhận tốt nhất. (thử nghĩ đến ví dụ kinh điển là iPhone nào ^_^)

innovation process - product 2

Ở giai đoạn đầu tiên, thường là công việc nội bộ của khách hàng, dựa trên thực lực và mục tiêu của công ty, khách hàng sẽ xác định được định hướng kinh doanh của họ.

Giai đoạn tiếp theo, research có thể giúp ích cho việc khám phá unmet / untapped needs (nhu cầu chưa được đáp ứng) của người tiêu dùng, giúp cho khách hàng có thể tận dụng cơ hội này của thị trường để tung ra sản phẩm mới, hay cải tiến/ thêm tính năng cho sản phẩm để đáp ứng nhu cầu này. Dạng dự án research phù hợp thường là U&A – Usage & Attitude (nghiên cứu về hành vi và thái độ của người tiêu dùng) đối với một ngành hàng hay lĩnh vực cụ thể nào đó. ( Ví dụ về ngành mì gói. Trước đây, nghĩ đến mì gói là nghĩ đến thuận tiện, chế biến nhanh, nhưng gây nóng do bột mì, do mì chiên,..) Những điểm sau chữ “nhưng” chính là unmet needs, người dùng muốn ăn mì thuận tiện mà không bị nóng, hay mì không chiên đi, vừa không nóng vừa tốt cho sức khỏe,… Thế là các loại mì sau này lần lượt ra đời, giải quyết các nhu cầu này bằng nào là mì khoai tây, mì không chiên,.. chính là để giải quyết các unmet / untapped needs này J )

Sau đó, sẽ đến giai đoạn hình thành ý tưởng, rồi hình thành sản phẩm, rồi cải tiến để đạt được mức độ tốt nhất đưa ra cho người tiêu dùng. Dạng dự án research phù hợp ở giai đoạn này thường là Concept Test (nghiên cứu người tiêu dùng cảm thấy thế nào với ý tưởng được đưa ra), Product Test (nghiên cứu người tiêu dùng cảm nhận / dùng thử sản phẩm xem có thích / muốn mua không hay cần cải tiến tiếp nữa). Để 1 sản phẩm được tung ra thị trường, nhiều khi phải thực hiện concept test 2- 3 lần, product test lên tới hơn 3-4 lần cũng có. Bởi vì có quá nhiều ý tưởng / định hướng ý tưởng được hình thành để đáp ứng 1 unmet / untapped need, phải chọn lọc /bớt ra từng loại (giai đoạn Ideation và Concept Prioritization). Sau khi có 1 định hướng concept được chọn, 1 concept cho sản phẩm được hình thành, đến giai đoạn phát triển sản phẩm thực tế. Giai đoạn này, sản phẩm sẽ được “soi” ở mọi khía cạnh, canh chỉnh từng chút từng chút một các yếu tố (attributes) để có được thành phẩm ban đầu, thường là vài mẫu thử (prototypes), rồi lại được đem đi nghiên cứu với người tiêu dùng xem như sản phẩm như vầy họ có thích không, có hào hứng đón nhận không. Cứ làm đi làm lại như thế cho đến khi có được chữ “yes” từ người tiêu dùng, và công ty sẵn sàng tung sản phẩm.

Đối với sản phẩm được tung ra thị trường, sau một thời gian dài, có thể sẽ được nghiên cứu để tiếp tục tạo ra sản phẩm tốt hơn nữa. hoặc có thể do sản phẩm mình tung ra tốt, tốt hơn đối thủ, thế là đối thủ nghiên cứu phát triển sản phẩm của họ để sao cho tốt hơn của mình. Vì vậy, lúc này mình lại tiếp tục nghiên cứu phát triển tiếp sản phẩm của mình. Vòng xoáy này sẽ kéo dài mãi, dài mãi trong thị trường cạnh tranh, khi mà người tiêu dùng là “thượng đế” ^_^

[Quay lại với sản phẩm của các bạn sinh viên tata được tặng, cảm giác hồi hộp muốn trông thấy sự thay da đổi thịt về mặt concept hay product của các bạn theo thời gian quá :D]

[bài viết dưới góc nhìn cá nhân, sự hệ thống hóa cũng dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học và làm. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp và câu hỏi từ các bạn trong và ngoài ngành để “mài bén” kiến thức này hơn nữa ^_^ ]

Bài 9 – Người tiêu dùng là ai? Có thật là tôi/bạn đã thấu hiểu họ? {Loại bài viết về Nghiên cứu thị trường}

Trong ngành nghiên cứu thị trường, Tata làm một mảng nhỏ có tên gọi là “nghiên cứu người tiêu dùng”. Nhiệm vụ của tata và đồng nghiệp trong mảng này là phải am tường, thấu hiểu người tiêu dùng là ai, tại sao, như thế nào, họ mua cái này, sử dụng cái kia, yêu cái nọ, sẵn sàng chi bội tiền cho một sản phẩm / dịch vụ nào đó…  nói tóm lại, là hiểu, cố gắng hiểu, như hiểu người yêu, hay chính bản thân mình vậy đó.

Tuy nhiên, mọi thứ nên bắt đầu một cách đơn giản, bằng một câu hỏi đơn giản và căn bảnNgười tiêu dùng của bạn, họ là ai?” (nhìn zậy mà hok đơn giản zậy tí nào đâu)

Với câu hỏi này, thông thường, theo thói quen nghề nghiệp, dân research hay ngay lập tức nghĩ đến việc hiểu người tiêu dùng thông qua những thông tin về giới tính, tuổi, thu nhập, quan sát cái người tiêu dùng làm, hay hỏi điều họ nghĩ đến..

Tuy nhiên, bản thân người làm research quên mất một góc nhìn lớn hơn, một bức tranh rộng hơn, bao quát những yếu tố này.

Người làm research, thường khi, quên rằng người tiêu dùng là những CON NGƯỜI. Thấu hiểu người tiêu dùng cũng chính là thấu hiểu con người của chính họ. Đôi khi, việc nghĩ về một ai đó như mình sẽ phản ứng, hành động ra sao trong hoàn cảnh cụ thể giúp ích được rất nhiều, hơn cả việc giới hạn việc hiểu họ thông qua các thông tin chuyên môn như thu nhập, tuổi, giới tính,..  [kaka, cái này là cực kỳ cực kỳ hợp và luôn luôn thấy khi làm U&A hay Segmentation)

Người tiêu dùng, họ là CON NGƯỜI… như mình!! J

Việc thấu hiểu chính con người họ, cách họ nghĩ, cách họ hành động, chắc chắn sẽ không thể nào sai được khi hiểu về người tiêu dùng.

Lấy cái ví dụ. Khi đi vào toilet, có nhiều phòng (bạn cần đi năng nhé). Phòng nào bạn sẽ tiến đến?

rest room

Bạn nhớ lại xem, bạn vào phòng nào lần gần đây nhất, hay bạn thường đi vào nhất?

Hầu hết mọi người, ở tình huống này, thường bảo họ tránh đi vào phòng đầu tiên. Khi tìm hiểu lý do tại sao, hầu hết đều nói vì phòng đầu tiên thường dơ nhất, vì vậy họ tránh đi vào phòng đó.

Nghe quen không? Hợp lý? (có giống bạn đang nghĩ?)

Cơ mà, nếu hầu hết tất cả mọi người đều tránh đi vào phòng đầu tiên, vậy phòng đó đáng lẽ phải là phòng sạch nhất chứ nhỉ !?!!   😉

Thêm một ví dụ nữa nhé.

Tại sao phụ nữ hay rủ nhau cùng đi vào toilet? (hề hề, mấy bạn nam chắc ít nhất cũng 1 lần tự hỏi ^_^)

Nếu bạn để ý, ngay cả khi mấy người phụ nữ này thân, hay quen, hay không thân nhau mấy, họ vẫn cứ rủ nhau đi toilet khi có nhu cầu. Lúc nào cũng thấy họ cần / thích có một ai đó đi chung. Sao vậy?

woman in pair in rest room

Có nhiều lý do được đưa ra… nào là vì an toàn, vì có cảm giác an tâm khi ai đó đi chung, vân vân.  Dù là lý do gì, thì đó chính là HÀNH VI của phụ nữ thường thấy.

Hề hề, hiểu CON NGƯỜI của người tiêu dùng là vậy đó.

(còn tiếp)

[bài viết dưới góc nhìn cá nhân, sự hệ thống hóa cũng dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học và làm. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp và câu hỏi từ các bạn trong và ngoài ngành để “mài bén” kiến thức này hơn nữa ^_^ ]

Bài 8 – Một số xu hướng ĐANG và SẼ thay đổi ngành research truyền thống {Loại bài viết về Nghiên cứu thị trường} – tiếp theo

Xu hướng còn để lửng của hôm trước, hôm nay tata chia sẻ góc nhìn về các xu hướng này cũng như những cơ hội có thể xảy ra. (cái này là ảnh hưởng đến cơm áo gạo tiền của các bạn làm research nè, tata cũng zị :} )

Xu hướng 3: Công ty mới nhảy vào thị trường (new Entrants)

Với tốc độ phát triển công nghệ như hiện nay, sẽ có thêm nhiều công ty mới nhảy vào thị trường với lợi thế là các công nghệ phản động (disruptive technologies) họ phát triển hay độc quyền sử dụng. Công nghệ này sẽ giúp công ty mới có được USP (unique selling proposition) so với thị trường các công ty research khác. Ví dụ, công nghệ phát triển, việc nghiên cứu hành vi người đi mua sắm (shopper) sẽ ngày càng gần với thực tế hơn nữa (as reality as possible) để có được những thông tin chính xác cũng như những phát hiện mới mẻ cho các công ty bán hàng. Do vậy, công ty như Tobii Technology, với việc phát triển Eye Tracker, hoàn toàn đem lại cho họ USP để thâm nhập thị trường research hiện nay.

Ngoài ra, do cách thức và cách nghiên cứu (methodologies) truyền thống đã dần trở thành không còn gì mới mẻ, hay nói cách khác là các công ty khác cũng biết cách làm, họ có thể tự thực hiện các dự án research cùng với thế mạnh về kỹ năng phân tích mà họ đã có sẵn. Tata đang nói đến các công ty Tư Vấn (Management Consulting firms) là những công ty hoàn toàn có thể làm được điều này, nhất là bây giờ có nhiều công ty chuyên cung cấp dịch vụ fieldwork + data processing thì càng dễ dàng cho những công ty Tư Vấn này thập nhập thị trường research.

Do đó, một số cơ hội, hoặc là nguy cơ, đối với các công ty hiện có trong ngành sẽ là:

  • Sát nhập, mua lại, hoặc trở thành đối tác của nhau. Ví dụ về hợp tác trở thành đối tác của nhau, như thời điểm 2012, Nielsen hợp tác với McKinsey trong dự án NMIncite, cung cấp thông tin nghiên cứu về social media cho các công ty lớn.
  • Do có nhiều nhân tố mới (công nghệ, tư vấn, phân tích….), các công ty research sẽ có xu hướng tiến lên những nấc thang sâu hơn trong chuỗi ra quyết định của công ty client. Nếu như ngày xưa, research agency chỉ gần như là người cung cấp (data provider) or thông tin chưa sâu, dần dần chuyển lên cung cấp thông tin có giá trị hơn dựa vào data thu thập được (information in depth), nay research agency có thể đứng ở vai trò tư vấn (chiến lược, cách bán hàng, sắp hàng trong siêu thị, …) Với những thông tin thấu hiểu người tiêu dùng sâu như vậy, việc research agency tiến sâu hơn vào chuỗi ra quyết định của công ty client là việc một sớm một chiều. Và đây cũng sẽ là cơ hội sống còn cho agency trong vài thập kỹ sắp tới.

Xu hướng 4: Sự chuyển đổi của chính các bộ phận research tại các công ty client (In-house research transformation)

Chiến lược chuyển hóa bột phận research trong công ty client có thể dần thấy rõ. Công ty client có xu hướng chuyển dịch sang tự làm phân tích nghiên cứu cho chính họ. Có thể thấy rõ chuyển dịch này khi bộ phận research của các công ty ngày càng to ra, và số dự án họ yêu cầu research agency chỉ cung cấp FW service và gởi data cho họ thôi đang dần dần nhiều hơn. Ngoài ra, cách làm này còn có một điểm lợi cho họ, khi mà ngoài data / thông tin họ có từ agency cung cấp, client còn có data internal của họ, và 2 sets of data này cần có một team cung cấp góc nhìn tổng hợp và tạo ra báo cáo cuối cùng cho các bộ phận liên quan. Các công ty lớn bắt đầu có sự chuyển hóa này như Coca Cola, P&G, Unilever, Colgate, …

Cũng vì thế, có thể thẩy sẽ có những tác động tiêu cực lên một số bộ phận của research agency, nhưng vẫn có một số bộ phận hưởng tác động tích cực từ việc này. Ví dụ là bộ phận Nghiên cứu định tính (Qualitative). Do đặc thù của nghiên cứu Ethnography (Sống cùng / Đi theo đáp viên trong 1 khoảng thời gian nhất định để quan sát, rút ra thông tin hữu ích về mục tiêu đang cần), hay các loại hình khác đòi hỏi những yếu tố, kỹ năng đặc thù, dẫn đến Qualitative guys sẽ càng trở nên quan trọng hơn và khó thay thế hơn.

[bài viết dưới góc nhìn cá nhân, sự hệ thống hóa cũng dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quá trình học và làm. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, đóng góp và câu hỏi từ các bạn trong và ngoài ngành để “mài bén” kiến thức này hơn nữa ^_^ ]