what i might see for the end of 2016

[Vietnam market]

there is a noticeable shift towards protecting and maintaining fundamental human needs, to name a few: safety of family, finding security and secure own future, risk adverse, stability focus
-> shoppers tend to be more mindful (maintaining or scaling down would be seen yet still keep remained lifestyle balance)
-> affluent families focus on where to place their investments (gold would be their top choice, reduce stocks/money on securities market, hesitation seen for domestic real estate while greater focus on that of outside VN)

 

[this is my guess. it might turn out right or wrong, yet making a guess is a root of my investment these days 🙂 ]

Advertisements

Gap year – linh tinh mà thực tế – note 2

Lại nói tiếp về gap year – vẫn là vấn đề đầu tiên, tiền đâu? ^_^

[nhắc lại của note 1:

Có thể chia vấn đề tài chính thành 3 giai đoạn liên quan đến gap year, (1) hiểu tình hình tài chính của bản thân trước gap year, (2) tiền của mình đang ra sao trong thời gian gap year, (3) vấn đề tiền bạc sau giai đoạn gap year]

 

(2) tiền của mình đang ra sao trong thời gian gap year

Tiền là tiên là phật, là sức khỏe của cụ già, là món quà cho em nhỏ… ^_^ hehe, linh tinh vậy thôi, chứ đúng là tiền trong giai đoạn gap year quan trọng lắm, vì:

  • nếu tiền nhanh hết đi, thì khoản thời gian “gap” sẽ bị rút ngắn siêu nhanh
  • nếu tiền chỉ có tiêu mà không có tự động sinh ra thêm, thì cảm giác của bản thân trong giai đoạn gap sẽ dần dần bứt rứt và lo lắng tăng thêm
  • nếu tiền cạn dần đến gần hết thì khi đó, giai đoạn chuẩn bị cho đi làm trở lại sẽ cực kỳ bối rối và nhiều khi là xài hết tiền rồi mà vẫn chưa kiếm được job ngon, đúng ý trở lại

còn nhiều yếu tố nữa, bạn có thể nghĩ ra thêm, với tata thì 3 cái này là quan trọng nhất để nghĩ đến 1 chuyện, làm sao cho tổng số tiền của mình đang có sẽ bị hao hụt ít nhất có thể trong giai đoạn gap này.

tata dựa vào công thức đơn giản:

tiền còn lại = tiền đang có (A) – tiền tiêu xài (B) + tiền phát sinh thêm (C)

như vậy, muốn phần tiền còn lại nhiều/vẫn còn nhiều thì hoặc là tiền đang có siêu nhiều (kiểu mấy bạn có 1 tỷ trở lên thì sướng, khỏi lo luôn ^_^), hoặc/và tiền tiêu xài phải ít đi, hoặc/và có tiền phát sinh thêm trong giai đoạn gap.

 

Đi vào từng khía cạnh nhỏ nhé ^_^

(A) tiền đang có:

  • như note 1 có nói, tiền đang có là dạng tiền saving, tata là tuân thủ quy luật 3-6 tháng lương để dành phòng hờ
  • ngoài tiền saving kiểu emergency fund, tata có nhiều thể loại saving khác nữa, ví dụ như tiền tiết kiêm để đi du lịch, tiền tiết kiệm mua sắm cái này cái kia,…  trong giai đoạn gap year, thì cứ tính hết toàn bộ tiền tiết kiệm này để hiểu là mình có thể “sống thoải mái” đến càng lâu càng tốt
  • có 1 chuyện vô tình xảy ra trong giai đoạn gap, là căn nhà tata tích góp, đùng 1 cái, bán được giá, bán luôn! thế là tự nhiên “tiền đang có” trở nên nhiều kinh hãi. nhưng đây là trường hợp hy hữu, không nên được liệt kê vô làm kế hoạch ban đầu cho việc lên kế hoạch cho gap year.

(B) tiền tiêu xài:

  • vẫn là phải tiêu xài theo cách thông thường như khi đi làm là tốt nhất, vì như vậy, sẽ tận hưởng được trọn vẹn thời gian gap này mà không thấy bản thân bị đẩy vào cảnh phải dè xẻn quá mức
  • để xài ít tiền hơn mà vẫn giữ được lối sống như thường khi, có thể (tata chọn cách này, tùy người thấy hợp thì làm)
    • lập ra danh sách những thứ không thể không tiêu. ví dụ, với tata là 1 tháng không thể không đi mua sách 1 lần, không thể không ăn bò beefsteak 2-3 lần, không thể không đi cafe hay bar với bạn bè 2 tuần 1 lần, …
    • trong danh sách những điều không thể ấy, điều nào có thể chuyển hóa sang dạng chi tiêu khác để bớt tiền tiêu xài mà vẫn thỏa mãn nhu cầu bản thân thì chuyển hóa, cái nào ko thể chuyển hóa thì thôi. ví dụ:
      • mua sách để đọc, cũng là để dành. vì trong gap year, tạm thời có thể bỏ qua vụ “để dành”, bồi bổ phần để đọc thôi. vậy, có vài option thay thế: làm thẻ thư viện thành phố (rẻ, bao la lựa chọn); mượn sách của bạn (hên, tata có bạn làm xuất bản sách luôn, nên tủ sách bao la, tha hồ tha về đọc), sách ở nhà nhiều khi chưa đọc hay quyển nào hay thì đọc lại,…
      • ăn beefsteak. vẫn ăn, nhưng thay vì ra quán, tự làm ở nhà. cái này thì đòi hỏi 1 chút công phu nấu ăn để ngon được như quán, còn chắc chắn nấu ở nhà là đồ ăn cùng 1 chất lượng và rẻ hơn tận 3-4 lần.
      • đi cafe với bạn bè, thay vì ngày xưa đi mấy chỗ lung linh và không quan tâm về giá, thì giờ mấy đứa nào thân thân, nói thẳng với tụi nó là “tao nghèo, tiết kiệm nha, đi quán nào tầm 30-40k/ly đi, ko đi mấy chỗ như coffeebean này nọ thường sẽ tầm 80-90k/ly. thế là vẫn vui, vẫn cafe cà pháo thoải mái và không lo về tiền ^_^  bar/pub cũng là dạng tương tự.
      • đi du lịch, thay vì đi hoành tráng và tự do như bình thường. có thể chuyển hóa thành giúp công ty của bạn tổ chức team trip / company trip, khi đó sẽ vừa được đi du lịch vừa được miễn phí (chỉ có thêm công giúp bạn tổ chức thôi. ahihi)
      • … [nhiều lắm, thể nào cũng nghĩ ra thêm nhiều trò để tiết kiệm mà vẫn vui]

(C) tiền phát sinh thêm:

  • đây bảo đảm là 1 chuyện cực hay nếu có thể có trong giai đoạn gap year. vừa có thể kéo dài thời gian gap (nếu chơi đã quá, muốn chơi tiếp), vừa an tâm là tiền để dành không bị hao hụt nhiều, bớt đau khổ xót xa ^_^
  • tiền phát sinh thêm, có bằng cách nào? một vài ý tata tự làm, có thể gợi ý thử:
    • tata ban đầu tính cho thuê căn nhà của tata, sau đó dọn sang nhà anh 2 hay nhà bạn ở. thế là sẽ có thêm 1 khoản tiền mỗi tháng. (mà đó là ý định ban đầu thôi, chưa kịp làm thì đã bán mất tiêu. hehe)
    • tata nhận biên tập sách, làm chút chút vừa vui vừa có thêm chút tiền
    • nhận job research, làm ít ít, vừa đỡ quên nghề vừa có thểm chút thu nhập
    • tiền lãi do đầu tư
    • tiền lời do kinh doanh airbnb ở Vũng Tàu

 

chỉ có vậy thôi. bạn nào có ý hay hơn có thể chia sẻ. cùng nhau, chúng ta gap year hoành tráng ^_^

Gap year – linh tinh và thực tế – note 1

Gap year, có thể là mong muốn ấp ủ của các bạn sinh viên, hay là ý nghĩ thoáng qua của những bạn đi làm, hay là bất kỳ điều gì một ai đó, thì với bản thân, là tata đang trong khoảng thời gian gap year, dự định kéo dài đến hết cuối năm nay, và bắt đầu từ cuối năm ngoái.
[nếu ai không cảm thấy quen thuộc với cụm từ này thì tham khảo về gap year tại đây https://en.wikipedia.org/wiki/Gap_year]
gap year = a gap in (a) year ^_^  [tata tự diễn dịch thế thôi]
Với mấy bạn ở tuổi đã trưởng thành (ý là tự nuôi bản thân được, ý là đi làm rồi ấy) thì muốn gap year sẽ liên quan đến một vấn đề đầu tiên, tiền đâu? Đó là vấn đề tài chính cần được soi chiếu cẩn thận trước khi bắt đầu (nếu có) để có 1 gap year trọn vẹn (hy vọng vậy ^_^ )
Có thể chia vấn đề tài chính thành 3 giai đoạn liên quan đến gap year, (1) hiểu tình hình tài chính của bản thân trước gap year, (2) tiền của mình đang ra sao trong thời gian gap year, (3) vấn đề tiền bạc sau giai đoạn gap year
 

(1) Hiểu về tài chính của bản thân trước gap year

Trước khi bắt đầu quá trình “nghỉ dưỡng dài hạn”, thật lòng, phải hiểu rõ tình hình tài chính của chính chủ lắm ý. Còn nếu mà lỡ bắt đầu trước khi hiểu, thì khi phát hiện ra thì lao vào tìm hiểu ngay cũng còn kịp, để có thể kéo dài khoảng thời gian gap year thêm 1 chút cũng vui. Thực tế là tata không có cố ý hiểu về tài chính của mình siêu cụ thể và quá rõ ràng trước gap year đâu, với tata là sự kết hợp của cả 2.
Một số vấn đề cơ bản tata nghĩ phải trả lời được:
  • Có bao nhiêu tiền để dành nhàn rỗi? Và cách quy đổi hay nhất là với số tiền để dành nhàn rỗi ấy, có thể tương đương với bao nhiêu tháng lương hiện tại đang được nhận? [2 yếu tố quan trọng cần lưu ý, là tiền nhàn rỗi nha, không phải tiền đang đem đi đầu tư hay dùng vào việc này việc kia này kia đâu nha; và nhớ là tương đương với tháng lương hiện tại nha, quan trọng lắm á]
  • Hiện nay và trong tương lai gần, bản thân chỉ cần nuôi bản thân thôi? có cần trợ cấp/phụ cấp/gởi tiền về nuôi cha mẹ/gia đình gì không? có đang trong quá trình trả góp hay nợ nần chi không?..
{Thực tế hồi tata mới đi làm đã vô tình hình thành thói quen luôn cố gắng dành ra được tiền nhàn rỗi trong khoảng 3 đến 6 tháng lương hiện có và xem đó là emergency fund (kiểu như lỡ 1 ngày đẹp trời, mình bị bệnh/tung xe/… và không đi làm được bất ngờ thì ai nuôi cho, phải tự nuôi bản thân chớ, nên phải có sẵn khoản đó cho “những cơn mưa bất chợt” :v ). Đồng thời, tata cũng phải có khoản đề dành khác nữa, cho việc trả góp nhà (căn nhà chung cư thần thánh đầu đời của tata, bắt đầu góp hồi đầu năm 2014). Tuy không bắt buộc có nghĩa vụ nuôi cha mẹ (ơn trời, anh 2 mình và nhà nước đồng tài trợ cho ba mẹ rồi), tata cũng tự nghĩ có nghĩa vụ để lại 1 tháng 1 ít tiền xem như để dành cho ba mẹ muốn xài thêm gì thì xài, không xài thì để dành đi chơi.}
 
  • Mức chi tiêu một tháng để bản thân cảm thấy sống thoải mái là bao nhiêu? [yếu tố quan trọng là hiểu về chi tiêu của bản thân, và mức sống bản thân cần – aka. living standard. Gợi ý, có thể chọn ra tháng mà tiêu xài hoành tráng nhất làm chuẩn, vì với tiền bạc, thà tính dư còn hơn tính thiếu]
 
{Thực tế tata có những tháng tiêu pha hoành tráng, cà thẻ shopping hay đi bars & pubs, có những tháng đi công tác liên miên, nhiều khi chẳng có cơ hội tiêu tiền của mình, vì công ty cho công tác phí rộng rãi đủ xài :p. Nhưng tata dựa trên tháng chi tiêu hoành tráng, trừ đi một số chi tiêu mà tata biết tỷ năm mới như vậy một lần, ví dụ như cái trò shopping, kiểu, đã không đi mua sắm thì thôi, đã mua giày là 1 lần 3-4 đôi, hay váy áo mỗi lần cà thẻ là gần 10 bộ, thì mấy cái đó sẽ không có cơ hội xảy ra trong giai đoạn gap year nữa với cái đứa có tủ đồ và giày dép dư xài trong nhiều tháng không lặp lại. Tuy nhiên, có 1 số chi phí, dù hay bị liệt vào xa xỉ phẩm nhưng là nhu cầu không thể bỏ qua, vì sẽ ảnh hưởng đến cảm giác sống thoải mái, như là một tháng ít nhất phải đi ăn bò beefsteak vài lần, phải đi nghe nhạc uống tequila 1-2 lần (giống bị nghiện í), hay phải đi chơi xa vài tháng 1 lần…}
 
  • Mức thu nhập một tháng ngoài lương là bao nhiêu? ví dụ như tiền lãi gởi ngân hàng, hay bạn nào đó có làm thêm project freelance,.. [câu hỏi này quan trọng, vì khi bạn không đi làm nữa, có thể rãnh rỗi hay quởn quởn trong giai đoạn gap year nhận làm project cho vui, làm ít ngày vừa có tiền thêm vừa không sợ bị lụt nghề do lâu ngày quá không làm. hay như có thu nhập thụ động kiểu tiền lãi gởi ngân hàng, hay lấy nhà cho thuê nguyên căn, rồi dọn sang chỗ nào nhỏ hơn ở thế là có tiền dôi ra.]
{Thực tế tata không có loại thu nhập này trước giai đoạn gap year và cũng chưa từng nghĩ đến. Tuy nhiên, trong quá trình gap year thì bắt đầu có, đây là một câu chuyện khác, chắc để note sau kể chi tiết ^_^}
 
Rất may mắn là cả 4 điều này tata đều hiểu rõ và nằm lòng bất cứ lúc nào chứ không riêng gì khi lên kế hoạch cho gap year. [thực tế là không phải vì tata giỏi quản lý tiền bạc đâu, mà vì cái vụ trả góp tiền nhà mà bị “ép uổng” phải hiểu vậy đó, bạn nào trả góp nhà – tự mình 1 mình trả – thì sẽ hiểu liền ah. ahuhu. ]

Phượt cùng cha mẹ

[ viết linh tinh, không ‘so deep’ ]
phượt là từ của giới trẻ, và đã là của giới trẻ thì ít ai nghĩ đến người lớn tuổi, cha mẹ nằm trong số đó. mình cũng nằm trong nhóm ấy.
tuy thế, trong giai đoạn ‘gap year’ này, mình có nhiều thời gian nghĩ về điều mình muốn, điều mình cần, điều mình có thể đạt được dễ dàng, điều gì mình phải cố gắng thì mới mong làm được, và điều gì vào thời điểm nào vì thời gian là thứ không lấy lại được – nghe cliche’ quá nhỉ. nhưng thực tế, mình có thời gian dài – nhiều tháng – chỉ suy nghĩ những điều như vậy.
và rồi mình nhận ra, có nhiều điều mình muốn có thể trì hoãn, 20s không làm thì đầu 30s làm cũng được. cũng có những điều ngược lại, 20s không làm, nhiều khi 30s không kịp nữa. một trong những điều ấy là, đi du lịch cùng cha mẹ.
đi du lịch cùng cha mẹ thì có gì đâu nhỉ, đơn giản mà? [ý nghĩ thoáng qua là thế]
ở góc độ của mình, điều ấy đáng ghi nhớ. phần vì gia đình mình trong nhiều năm ít có cơ hội đi du lịch cùng nhau, nhưng đó là chuyện nhỏ. điều mình nhận ra là, trong 10 năm qua, kể từ khi đặt chân vào Sài Gòn, nghĩ đến đi chơi, nhất là đi chơi kiểu khám phá và thong thả, mình chưa bao giờ cho cha mẹ vào danh sách ‘ứng viên’ để nghĩ đến rủ đi. mình cũng đã đi vài nơi, đi với bạn, đi 1 mình, đi với nhóm lạ,… nhưng tất thẩy, chưa khi nào đi cùng cha mẹ.
mua tour cho cha mẹ đi du lịch là được mà, có gì đâu phải xoắn? [lại thêm 1 ý nghĩ thoáng qua]
‘điều mình không thích, thì đừng ép người khác làm/nhận’. thật đó, mình không thích đi tour, vì gò bó, vì tour không cho phép mình đi theo sở thích, nhiều lúc không thích đi kiểu check-in chụp hình cho lắm, mà thích lang thang. hay nhiều lúc không khỏe vào 1 ngày nào đó trong chuyến đi, thì chỉ thích nằm ở khách sạn hay ngồi cafe ngắm cảnh, và tour không cho phép làm điều này. vậy thì, sao lại ‘ép’ cha mẹ ‘già’ làm điều này, dù thoạt đầu là có vẻ cho cha mẹ đi du lịch?
do vậy, mình nghĩ đến ‘phượt cùng cha mẹ’. và kết quả khá là mỹ mãn.
từ chuyến đi trước đã muốn viết lại rồi, nhưng nghĩ cái gì cũng cần có thời gian để xác nhận chắc 1 chút, nên thôi. sau chuyến Nam Trung Bộ phượt xe máy qua các tỉnh từ Quy Nhơn đến Huế, nay là chuyến Sin-Malay, mình tin là 1 số điều mình rút ra sẽ đúng.
1 – phượt cùng cha mẹ là một cách để thật sự ‘spend quality time’ với cha mẹ.
thật đó. nếu nghĩ kỹ, những ngày bình thường, gặp cha mẹ nhiều khi cũng ngồi nói vài ba câu xong lại ai làm việc nấy hay chơi điện thoại, về quê thăm ba mẹ nhưng thật ra cũng là hẹn hò bạn bè đi cafe đi nhậu,.. cộng lại cả 1 năm, chưa chắc tổng thời gian thật sự để tâm+trí cho ba mẹ thật sự vượt quá 20 tiếng.
trong khi đó, khi đi phượt cùng cha mẹ, mình thật sự ‘take care’ mọi thứ từ đầu đến cuối. từ việc suy nghĩ sức khỏe của cha mẹ tương quan như thế nào so với sức của mình, lên kế hoạch đi chơi, và ‘lượng chơi’ giảm dần từ ngày đầu đến ngày cuối. và để tâm đến sở thích của mỗi người, của ba như thế nào, của mẹ ra sao, lên kế hoạch chính lẫn kế hoạch phụ… và thời gian khi đi chơi cùng cha mẹ, là mình hoàn toàn chú tâm vào đi chơi cùng ba mẹ, tự mình trở thành tour guide, kiêm thợ chụp hình, kiêm wikipedia/từ điển về nơi đó, kiêm bạn đi cùng, kiêm con gái, kiêm nhà tài trợ,…  và mình vô tình nhận ra điều tiếp theo..
2 – cha mẹ già đi nhanh hơn mình kịp nghĩ đến
đúng vậy. ba mẹ mình năm nay là trên dưới 60, và ba mẹ không có bệnh gì nặng cả, nhìn bề ngoài còn có vẻ khỏe mạnh nữa cơ. nhưng thực tế, mình bị bất ngờ khi nhận ra, sức khỏe của 1 đứa con gái như mình, mà lại gấp 2,5 lần sức của mẹ. đi chơi mình chưa kịp mệt thì mẹ đã nhiều khi rã rời, hay hoa mắt. hay như nhìn thấy ba, khi đi chơi không thấy mệt đâu, nhưng vừa về khách sạn, vừa quay qua quay lại là thấy ba ngủ thiếp đi mất tiêu, nhiều khi còn ngáy o o, vậy là biểu hiện của mệt rồi, trong khi con gái còn chuẩn bị vác ba lô chạy cầu thang tập luyện cho chuyến đi chơi tiếp theo. không phải mình khỏe mạnh, mà là cha mẹ đã già rồi, chỉ là mình bây giờ mới nhận ra là sức khỏe của người lớn tuổi là một môn học mới với mình, và môn này cần được quan tâm bởi con cái. cái gì không biết thì học, không rõ thì tìm hiểu và ghi nhận.
3 – một góc độ khác để hiểu cha mẹ hơn
mình hay nghĩ, muốn biết rõ về một người lạ, chỉ cần đi du lịch chung với họ vài ngày trở lên là bao nhiêu tính cách bộc lộ ra gần hết. ấy thế mà, bản thân mình không ngờ, mình cũng hiểu rõ ba mẹ hơn khi đi phượt cùng ba mẹ. hehe. nhiều cái bất ngờ lắm, nhất là từ chuyến đi miền Trung. và với chuyến đi thứ 2 vừa rồi, mình xác nhận được là mình đã hiểu đúng. hehe. đi chơi kiểu phượt cùng cha mẹ, có thể đã giúp mình có một góc độ nhìn nhận cha mẹ từ góc nhìn bạn đi đường, thế là có nhiều điều lạ mà mình vừa khám phá ra. kiểu như không cần ba hay mẹ phải lên tiếng nữa, cứ hoàn cảnh ấy, không gian ấy, là mình biết mình phải làm gì, phải đặt câu hỏi gì, hay nhiều khi phải cương quyết dứt khoát luôn vì kết quả tổng thể tốt đẹp.

Sexy little numbers – đọc và tự vọc thử luôn – note 5

Kinh doanh, quan trọng nhất là lợi nhuận (tất nhiên là trong bối cảnh làm ăn có đạo đức ^_^). Mà lợi nhuận là kết quả của 2 yếu tố Doanh thu và Chi phí. Muốn lợi nhuận tăng thì đơn giản là tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, nếu làm được cả hai cùng lúc thì tốt quá.

Có 1 phần trong cuốn Hiểu Số để Tăng Số (trang 138) liệt kê các cách để xác định/lên kế hoạch ngân sách. Tata dẫn ra đây,

  1. Trực giác/Quy tắc ngón tay cái (rule of thumb). Dựa vào kinh nghiệm để thực hiện.
  2. Duy trì mức chi trước đó. Gữ nguyên mức ngân sách cũ – nếu hiện nay nó vẫn hiệu quả. (Đôi khi chúng ta phải điều chỉnh theo mức lạm phát của nền kinh tế)
  3. Theo tỷ lệ doanh số bán hàng trước đó: ví dụ ngân sách marketing năm nay sẽ bằng 5% doanh thu năm ngoái.
  4. Có khả năng chi trả được.
  5. Lợi nhuận còn lại của năm trước.
  6. Theo tỷ lệ lãi gộp (gross margin)
  7. Tỷ lệ doanh số dự báo
  8. Chi phí cố định trên từng đơn vị sản phẩm bán ra.
  9. Chi phí cho một khách hàng/một doanh nghiệp.
  10. Phù hợp với mức độ chi tiêu hiện tại của đối thủ. Đây là một cách không tệ, với giả định là đối thủ cũng biết rõ những gì họ đang làm.
  11. Theo “share of voice” của thương hiệu
  12. Lợi nhuận biên (marginal return)
  13. Theo công việc (task approach). Bạn xác định mục tiêu và chi phí để đạt được mục tiêu đó.
  14. Mô hình hóa (modeling)
  15. Thử nghiệm trên Trọng số truyền thông (Media weight test)

Chuyện kinh doanh airbnb của tata nhỏ xíu, không cần phải ‘lấy dao mổ trâu giết chim én’ ^_^ nhưng cái tata muốn chia sẻ, là mình có thể áp dụng góc nhìn này, cho 1 đối tượng khác.

Là như vầy, ở trên là các phương pháp để xác định ngân sách. Nếu như, đối tượng của mình không phải là “ngân sách” nữa, mà mình suy nghĩ nó là “doanh thu”, liệu dạng suy nghĩ này có giúp ích mình nghĩ thêm 1 số cách hay?

Với căn airbnb tại Vũng Tàu của tata, Doanh Thu tương đương với Pricing. Vì, giá cho thuê là bao nhiêu, thì cứ thế mà nhân với số ngày và số khách cho thuê ra doanh thu. Thử chọn cách suy nghĩ của 15 phương pháp trên, tata nghĩ có thể giúp tata chọn ra được giá cho thuê cho phù hợp. (Phù hợp theo tata nghĩ là đủ thấp để hấp dẫn khách thuê và đủ cao để mình đạt được mức lợi nhuận tốt nhất.)

Và tata thấy có yếu tố nổi bật lên, có thể áp dụng thử; (10) Phù hợp với mức độ chi tiêu hiện tại của đối thủ. Đây là một cách không tệ, với giả định là đối thủ cũng biết rõ những gì họ đang làm. Nghĩa là hiểu ‘lệch’ đi thành ‘phù hợp với mức độ đặt giá thuê hiện tại của đối thủ’

Đọc tựa đề là có thể mường tượng ra, là mình sẽ xem các căn hộ có cùng đặc điểm với căn hộ của tata (dựa trên 4 yếu tố quan trọng mà hôm trước đã tìm ra – note 2 đã đề cập)

  • Location – cùng vị trí khu chung cư của tata, hoặc có các yếu tố cùng đặc điểm như lầu cao (view đẹp), và/hoặc gần biển
  • Basic needs – chỉ ở được thôi, hay còn cho nấu nướng này nọ trong nhà
  • Loại hình cho thuê – nguyên căn hộ, hay phòng riêng
  • Số lượng người thuê mỗi lần – căn hộ có thể cho thuê tối đa bao nhiêu người.
  • Số phòng ngủ, là 1 phòng ngủ hay 2, hay 3 phòng ngủ
  • Giá trong khoảng từ 500,000 vnd đến 1,000,000 vnd. Có thể mở rộng lên tầm 1,200,000 vnd cũng được.

Tata tổng hợp danh sách giá cho thuê của những căn hộ trong cùng phân khúc với căn ở Vũng Tàu của tata. Từ đó, tata có thể tính ra được giá cho thuê căn hộ với những đặc tính (a) giống y chang của tata trong phạm vi bao nhiêu đến bao nhiêu, và (b) hơi hơi giống của tata có giá bao nhiêu. Và tính ra số trung bình trong cho mỗi trường hợp. Từ đó, tata có cơ sở để chọn lựa mức giá thuê phù hợp cho mình và vẫn mang tính cạnh tranh cao.

Hơn nữa, có 1 đặc điểm trong sách có nhắc đến “Đây là một cách không tệ, với giả định là đối thủ cũng biết rõ những gì họ đang làm.”  Vấn đề là phải biết ‘chọn mặt gởi vàng, chọn bạn mà chơi’. Vậy, đâu là đối thủ mà mình nghĩ là họ biết rõ những gì họ đang làm. Tata dựa trên các yếu tố sau:

  • Họ đã có mặt trên thị trường trong thời gian dài (tốt nhất là trên 6 tháng)
  • Họ có số lượng review nhiều (tương đương với có nhiều khách đã thuê)
  • Quan trọng, họ là Superhost theo đánh giá của Airbnb.

Tata lọc ra danh sách nhóm Host này và cũng tính lại (a) và (b) như đã nêu ở trên.

Trên thực tế, tata áp dụng 3 trong 15 cách trên để tính ra giá thuê. Áp dụng nhiều phương pháp cùng 1 lúc có cái hay là mình có thể kiểm tra chéo giá thuê theo cách phân tích cả mỗi phương pháp. Do đó mà tata sẽ tự tin là giá cho thuê của mình đang là hợp lý ^_^

Sexy little numbers – đọc và tự vọc thử luôn – note 4

Trong phần trước, có 1 biến số tata muốn biết mà chưa có số liệu, đó là ‘X’ – số lượng người đi du lịch ở Vũng Tàu có nhu cầu thuê nhà trên Airbnb. Con số này cần phải biết, để hiểu rõ thị trường Airbnb tại Vũng Tàu để còn biết là hiện tại căn hộ cho thuê của tata đang thực hiện quảng bá là tốt hay chưa đủ tốt.

Một điều tata rất thích ở cuốn “Hiểu số để tăng số”, là cuốn sách trang bị cho người đọc cách tư duy về dữ liệu, cái rất quý, hơn là chỉ trang bị những hướng dẫn kiểu cầm tay chỉ việc cái mà khó có thể áp dụng hay linh hoạt trong các trường hợp khác nhau cần ứng dụng.

“Nếu bạn không có dữ liệu, bạn có thể tự tạo ra nó”  (trang 56)

Tác giả chia sẻ về cách tư duy để có thể hé lộ thêm về dữ liệu đã có sẵn đâu đó trên thị trường rồi, mình cần chịu khó tư duy như một khách hàng (và làm như vậy nhiều lần với nhiều trường hợp khách hàng khác nhau) để hiểu về dòng thông tin sẽ ‘chảy’ ra sao. Từ đó, việc thu thập dữ liệu thô là hoàn toàn có thể, để cung cấp cho quá trình xử lý tạo ra thông tin cho chính công việc kinh doanh của bản thân/công ty.

Tata cũng thử cách này với câu hỏi nêu ở đầu bài. Và mở rộng câu hỏi ra nữa, để hiểu về thị trường, ‘supply and demand’ ra sao?

*Về khả năng cung cấp dịch vụ của thị trường (airbnb ở Vũng Tàu)

Trên airbnb có 1 cái khá hay, cung cấp cho người sử dụng khi họ tìm kiếm căn hộ/phòng để thuê tại 1 địa điểm nào đó, và luôn luôn hiển thị tổng số sự lựa chọn cho người dùng xem. Nhờ điều ấy, tata chọn cách chọn 1 ngày lưu trú xa xa thời điểm hiện tại, chọn hình thức lưu trú cho 2 người (dạng phổ biến nhất). Khi đó, trang web hiện ra có “154 rentals”. Điều đó có nghĩa là có 153 căn hộ hiện đang cạnh tranh với căn hộ của tata trong lĩnh vực dịch vụ này.

SLN - note 4 - hinh 1

Thêm một điểm hay nữa, là tata có thể chọn lọc ra kỹ hơn về mức độ cạnh tranh này. Vì phân khúc căn hộ của tata không phải dạng quá sang trọng, cũng không phải dạng quá bình dân, nên tata có thể thay đổi các tùy biến để chính xác hơn về mức độ cạnh tranh này. Tata chọn loại hình là Entire home/apt, và/hoặc Private room (vì tata đứng dưới góc nhìn của người dùng airbnb để hiểu mức nhu cầu của họ), số tiền khách sẵn sàng chi trả từ 500k đến 1,000k cho 2 khách/ngày lưu trú.

Ngoài ra, nếu tinh ý, có thể thấy số lượng ‘rentals’ thay đổi theo thời gian nữa cơ. Bởi vì theo thời gian, sẽ có thêm/bớt nhiều người tham gia cung cấp dịch vụ trên Aribnb. Và tata luôn có thể cập nhật được chính xác số lượng đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường.

*Về nhu cầu dịch vụ của thị trường (airbnb ở Vũng Tàu)

Đây là một số liệu làm tata đau đầu và tốn kha khá thời gian để tìm hiểu cách tìm ra số liệu này.

Vẫn dựa trên cách tư duy “đặt mình vào vai trò của người có nhu cầu sử dụng Airbnb” để tìm ra cách thức tìm dữ liệu. Tata nghĩ đến, Airbnb có chương trình review cho cả khách (guest) và chủ hộ (host) để review cho đối phương, và có chế độ hậu thưởng (incentive) để họ làm việc này. Nếu vậy, số lượng reviews cho mỗi căn hộ có thể gần đại diện cho số lượng khách ở tại một căn hộ. (ẩn số là tỷ lệ đại diện này là bao nhiêu phần trăm, giả sử số A%). Khi đó, tata có thể nhìn nhu cầu thị trường tương đương với số lượng reviews hiển thị đối với mỗi căn hộ. Và tata có thể thực hiện việc đo lường này, đồng thời kiểm tra chéo dựa trên 2 nguồn dữ liệu để ra được con số gần chính xác nhất.

  • Hướng nhìn từ số lượng reviews của khách dành cho chủ hộ
  • Hướng nhìn từ số lượng reviews của chủ hộ dành cho khách

SLN - note 4 - hinh 2

Với hướng nhìn từ số lượng review của khách dành cho chủ hộ, base đang dùng là dựa trên số hộ. Thực hiện một phép liệt kê đơn giản, tata ghi lại căn hộ nào có bao nhiêu lượt reviews. Ví dụ như hình trên, căn hộ “Amazing seaview apartment” có 5 reviews. Thực hiện tương tự như vậy cho tất cả các căn hộ trong phân khúc mà tata nhắm đến (hiện tại đang phân khúc theo giá và loại hình dịch vụ). Xong bước này, tata có tổng số lượng reviews (52 reviews) trên tổng số căn hộ (25 listings), lấy số đầu chia số sau sẽ ra, trung bình, số lượng review cho mỗi căn hộ là 2.2 lần.

[lưu ý, con số này có khoảng thời gian được tính là 1 năm, vì airbnb chỉ mới xuất hiện tại VN năm 2014 và chỉ thật sự phổ biến trong vòng 1 năm gần đây, thậm chí chỉ là trong vài tháng gần đây cho thị trường Vũng Tàu. Để các số liệu mang độ tin cậy cao hơn, cần thời gian để chờ số liệu mang tính ổn định.]

Như vậy, con số 2.2 lần chia cho số A% sẽ ra số trung bình cơ hội mà mỗi căn hộ nhận được khách trong 1 năm. Nghe có vẻ ít nhỉ? ^_^

Tuy nhiên, tata lại tiếp tục chú ý thêm trong quá trình ghi chú lại dữ liệu số reviews của mỗi căn hộ, có những căn không có ai reviews hết, và có những căn có rất nhiều reviews. Do vậy, để cho chính xác hơn, nên thực hiện phép chia cho số căn hộ có reviews thôi – 13 căn hộ. tata đạt được 4.0 lần.

Thêm 1 yếu tố nữa, tata xem xét sự phân bố theo dạng “phân phối thống kê” của số lượt reviews với các căn hộ. Nói đơn giản hơn, tata xem căn hộ có nhiều lượt reviews nhất và khoảng cách giữa những căn hộ có nhiều reviews với những căn hộ có ít reviews. 15 reviews cho căn hộ có nhiều nhất (và căn hộ bắt đầu hoạt động từ November 2015). Đây sẽ là mục tiêu cho căn hộ của tata. Hehe.

Tương tự với cách thực hiện tìm kiếm dữ liệu theo hướng nhìn từ reviews của chủ hộ cho khách. Kết hợp 2 dòng dữ liệu này, giúp tata hiểu rõ về thị trường để đặt ra mục tiêu doanh thu cho căn hộ của tata. ^_^

#đọc_sách_vui_lắm

Cuốn sách Hiểu số để tăng số, không dễ đọc, nhưng đọc rồi sẽ nâng tầm về dữ liệu và phân tích dữ liệu của người đọc lên một bậc mới, dù ít hay nhiều. Rất đáng đọc.

Self-claim: tata góp phần biên tập cuốn sách này, và dù có kiến thức về research sẵn, tata cũng học được thêm rất nhiều điều từ cuốn sách này. Thật sự cám ơn team WeCreate.life vì cơ hội này.

Sexy little numbers – đọc và tự vọc thử luôn – note 3

Có 1 phần trong cuốn sách (trang 154) giới thiệu về Mô hình giá trị marketing theo hình phễu (marketing funnel approach) khá thú vị và cũng gần với cách tư duy của các bạn làm research khi phân tích cho khách hàng về Brand Leverage, hay có nơi khác dùng thuật ngữ Brand Dynamics.

SLN - note 3 - hinh 1'

“Trong đó,

  • Nhận biết (awareness): làm cho khách hàng biết đến sự tồn tại của bạn
  • Cân nhắc (consideration): làm cho khách hàng nghĩ đến bạn
  • Mua hàng (purchase): làm cho khách hàng mua sản phẩm /dịch vụ của bạn
  • Trung thành (loyalty): làm cho khách hàng quay trở lại mua nhiều hơn”

Sách sử dụng mô hình này để tìm ra phương án phân bổ ngân sách marketing cho phù hợp, để tránh làm thừa điều này (vd như làm thừa phần khơi gợi nhận biết ở khách hàng) mà quên mất để dành ngân sách cho điều khác (vd như chỉ dành ít ngân sách cho việc biến khách hàng trở thành khách hàng trung thành).  Bởi vì, quy trình của một khách hàng sẽ là chuyển từ [nhận biết] sang [cân nhắc] sang [mua hàng] và đi đến [trung thành].

Nghĩ đến Airbnb đang làm ở Vũng Tàu của tata, tata cũng áp dụng thử cách suy nghĩ này để xem mình có thể hiểu được gì từ thực tế. Thông tin mà trang Airbnb cung cấp cho Host (người có nhà đăng cho thuê) như hình bên dưới.

Tìm hiểu số  liệu nửa đầu tháng 8, sẽ thấy có các yếu tố sau; 60 views, 6 requests, 3 bookings. Có thể hiểu như sau:

  • 60 views chính là 60 người có click vào xem chi tiết căn nhà của tata đăng, tương đương với 60 người nhận biết (awareness)
  • 6 requests chính là 6 người có gởi tin nhắn hỏi thêm thông tin, tương đương với 6 người cân nhắc chọn lựa căn nhà của tata để thuê cho chuyến đi của họ (consideration)
  • 3 bookings chính là 3 người thực hiện hành động thuê căn hộ của tata cho chuyến đi đến Vũng Tàu của họ, tương đương với 3 người mua hàng (purchase)
  • Trung thành (loyalty), có thể xem là khách hàng quay lại đặt phòng lần 2. Hiện tại thì chưa có khách hàng nào như thế.

SLN - note 3 - hinh 1

Vì tata chưa có cơ sở để biết là có tất cả bao nhiêu người đi du lịch ở Vũng Tàu có nhu cầu thuê nhà trên Airbnb để tính tỷ lệ chuyển đôi, tạm xem đó là 1 số ‘X’ đi.

Như vậy, xét theo mô hình này, căn hộ của tata ở Vũng Tàu có Mô hình hình phễu hình bên dưới. Và như vậy, tỷ lệ chuyển đổi từ giai đoạn trên sang giai đoạn kế tiếp giúp tata hiểu là mình cần phải làm gì với việc đăng cho thuê căn hộ của mình để đạt mục tiêu tăng doanh thu, tức là tăng lượng mua hàng (bookings). Khi đó:

  • Số lượng người nhận biết tăng dẫn đến mục đích cuối là tăng lượt bookings. (60 views cho ½ tháng ở thời kỳ đầu là ổn, nhưng kéo dài như thế hoài thì không đủ tốt)
  • Mức chuyển đổi từ Nhận biết –> Cân nhắc chỉ có 10%. Con số này nếu xem xét đúng, phải biết thêm số trung bình của ngành kinh doanh dịch vụ này để biết tương quan như vậy là thấp hay cao, đã tốt hay chưa. Tuy nhiên, theo cá nhân tata thì 10% như vầy là chưa tốt, cần có kế hoạch tăng lên tầm 20%.
  • Mức chuyển đổi từ Cân nhắc –> Mua hàng hiện là 50%, như vậy là khá tốt (cũng là theo nhận xét chủ quan của tata). Nếu để “vét” hết số lượng khách hàng, cần làm bước tiếp theo là phân tích xem tại làm sao mà khách hàng tiềm năng đã cân nhắc mình rồi mà cuối cùng lại không chọn chỗ mình ở nữa. [đây có thể là 1 chủ đề cho bài sau ^_^]

SLN - note 3 - hinh 2

Như vậy, nhờ mô hình Marketing hình phễu, số liệu giúp tata có cái nhìn rõ ràng về việc phải làm gì tiếp theo để marketing hay tăng doanh thu đạt được.

Tata lại tò mò, liệu còn những thông tin số liệu gì giúp mình thêm hiểu biết mà có liên quan đến mô hình đã nêu không, và tata tìm thấy thêm 1 dạng số liệu nữa. ’13 travelers saved this place’ as wish list. Số liệu này khá thú vị, vì đây có thể là những người cân nhắc và gởi tin nhắn hỏi, hoặc chưa có nhu cầu hay cơ hội đi du lịch ở Vũng Tàu trong khoản thời gian cận sắp tới, nhưng họ thấy ‘thích’ căn hộ của tata và lưu lại để sau này dùng. Do đó, con số này là con số đáng để quan tâm, vì một khi họ có nhu cầu đi du lịch ở Vũng Tàu, chắc chắn họ sẽ cân nhắc để đặt thuê chỗ của tata.

SLN - note 3 - hinh 4

Câu hỏi đặt ra, số liệu WishList này nên hiểu trong mối tương quan của mô hình hình phễu đã có như thế nào?

Đây là nhóm khách hàng tiềm năng, chắc chắn là họ đã có nhận biết căn hộ của tata, và họ đã có 1 chút ‘cân nhắc’ khi lưu lại thông tin, nhưng họ chưa đến giai đoạn mua hàng. Vậy, trong giai đoạn ‘cân nhắc’, bây giờ tata sẽ tạo thêm vào 1 yếu tố nhỏ để tách biệt với những người ‘cân nhắc và gởi tin nhắn hỏi’ – tương đương với họ vừa cân nhắc vừa có thực hiện hành động tiếp cận gần hơn với giai đoạn mua hàng.

SLN - note 3 - hinh 5

Khi đó, tata có thể tính toán lại tỷ lệ chuyển đổi, cho cả 2 trường hợp để hiểu sâu hơn về cách marketing cho căn hộ. Với góc nhìn lạc quan, số lượng người cân nhắc là 19 người; góc nhìn bi quan sẽ là 13 người. Do vậy, tỷ lệ chuyển đổi giữa các giai đoạn cũng có sự thay đổi. Nếu giữ cách quan sát dữ liệu này, có thể thực hiện sự so sánh giữa tháng này với tháng khác để biết mức độ hiệu quả thay đổi ra sao theo thời gian.

 

{claim: tất cả những chỗ có viết in nghiêng là tata trích dẫn nguyên văn trong sách}